Bạn đang ở mục Công tác công đoàn LĐLĐ tỉnh Bình Định: Nhìn lại 10 năm thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW

{jatabs type="modules" animType="animNone" style="teline_iii" position="top" widthTabs="120" heightTabs="30" width="100%" height="auto" mouseType="click" duration="1000" colors="1" module="ja-tabs-tt1" }{/jatabs}{jatabs type="modules" animType="animNone" style="teline_iii" position="top" widthTabs="120" heightTabs="30" width="100%" height="auto" mouseType="click" duration="1000" colors="1" module="ja-tabs-tt2" }{/jatabs}


LĐLĐ tỉnh Bình Định: Nhìn lại 10 năm thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW

Email In

Sau khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) ban hành Nghị quyết số 20 –NQ/TW ngày 28/1/2008 về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; Tỉnh ủy Bình Định ban hành Kế hoạch số 22-KH/TU ngày 20/6/2008; Tổng LĐLĐ Việt Nam ban hành Chương trình hành động số 399/CTr-TLĐ ngày 07/3/2008; LĐLĐ tỉnh ban hành Kế hoạch số 15/KH-LĐLĐ ngày 08/7/2008 thực hiện Nghị quyết số 20 –NQ/TW. Đã có 15/15 công đoàn cấp huyện, ngành và 57/64 CĐCS trực thuộc ban hành kế hoạch thực hiện Nghị quyết phù hợp với đặc điểm, tình hình CNVCLĐ ở từng địa phương, đơn vị, ngành, sau 10 năm có đã có hơn 95 %  đoàn viên, CNVCLĐ tham gia học tập.

Theo Kế  hoạch số 22-KH/TU ngày 20/6/2008  của Tỉnh ủy Bình Định đã chỉ rõ: “ số lượng, cơ cấu, nhất  là chất lượng đội ngũ công nhân chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh. Phần lớn công nhân chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống; trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp còn thấp; giác ngộ giai cấp và hiểu biết chính trị chưa đồng  đều; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn hạn chế, chậm thích ứng với cơ chế thị trường và hội nghập quốc tế” đó là những khó khăn, thách thức trong quá trình tổ chức thực hiện.Trong vòng 10 năm thực hiện tuy có những giải pháp và quyết tâm chính trị rất cao, coi việc xây dựng giai cấp cấp công nhân (nguồn nhân lực) là yếu tố quan trọng của sự  tăng trưởng kinh tế- xã hội, là vốn quý, hơn cả vốn và công nghệ, máy móc, thực trạng tỉnh ta đã có nhiều giải pháp để phát triển nguồn nhân lực nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, điều đó đã ảnh hưởng đến kết quả triển khai thực hiện, vận dụng các chủ trương của Đảng, của Nhà nước vào điều kiện cụ thể của tỉnh, khai thác có hiệu quả các lợi thế nguồn lực của tỉnh, chưa tạo được khâu đột phá cho sự phát triển, đó cũng là điều trăn trở của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, trong đó có vai trò của tổ chức công đoàn, tổ chức chính trị - xã hội.

Trong thời gian qua các cấp Công đoàn đã góp phần quan trọng phát triển nguồn nhân lực, chất lượng giai cấp công nhân. Theo thống kê toàn tỉnh có hơn 6.000 doanh nghiệp, song số doanh nghiệp  đủ điều kiện để thành lập tổ chức công đoàn chiếp tỷ lệ thấp, điều đó khiến cho công đoàn thực hiện chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, tập hợp người lao động vào tổ chức công đoàn trong điều kiện có thể. Tính từ giai đoạn 2008  - 2017, toàn tỉnh có tổng số 59.468 lao động trong các doanh nghiệp đã có CĐCS, trong đó: 45.546 lao động là đoàn viên công đoàn đạt tỷ lệ 76.59%, có 383/539 doanh nghiệp đủ điều kiện đã thành lập CĐCS đạt tỷ lệ 71.06%. Riêng các khu công nghiệp có 468 doanh nghiệp với 55.764 lao động, trong đó có 41.842 là đoàn viên công đoàn đạt tỷ lệ 75.03% và có 372 doanh nghiệp có CĐCS đạt tỷ lệ 76% có tổng số đoàn viên là 85.026/116.532 CNVCLĐ với 1.564 CĐCS. Về trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của CNVCLĐ không ngừng được nâng cao, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề chiếm 52%, có hơn 30% số CNVCLĐ được học tập nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao tay nghề, bậc thợ và tỉnh đã chi  hỗ trợ hơn 20 tỷ đồng thu hút phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; phong trào thi tay nghề chọn thợ giỏi được quan tâm thực hiện ở nhiều ngành, CNLĐ có điều kiện tiếp thu nhanh công nghệ sản xuất và quản lý mới. Trong 10 năm, công đoàn tỉnh tín chấp cho đoàn viên công đoàn, người lao động được vay vốn với tổng số tiền 2,672 tỷ đồng, góp phần giải quyết việc làm cho gần 463 lao động, đã giới thiệu 19.312 đoàn viên ưu tú cho cấp ủy xem xét kết nạp và đã có 14.848 đoàn viên được kết nạp vào Đảng. Hưởng ứng phong trào thi đua yêu nước do công đoan phát động, đã có 671 lượt CNVCLĐ được biểu dương, khen thưởng ở cấp tỉnh. Nhiều công trình sản phẩm được hoàn thành; nhiều sáng kiến, giải pháp, đề tài lao động sáng tạo được áp dụng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho công nhân có lúc, có nơi chưa được quan tâm đúng mức. Công tác tham mưu về chế độ, chính sách có liên quan trực tiếp đến CNLĐ còn nhiều hạn chế. Công tác phát triển đoàn viên, đảng viên trong CNLĐ và thành lập CĐCS trong các doanh nghiệp khu vực kinh tế ngoài Nhà nước còn hạn chế.

Một số nhiệm vụ giải pháp trong thời gian tới:

1. Tiếp tục quán triệt Nghị quyết 2020 –NQ/TW, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục về truyền thống, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho đội ngũ CNVCLĐ gắn với việc vận động CNVCLĐ học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

2. Tham gia, phối hợp với chính quyền, các ngành, các cấp trong việc đào tạo, đào tạo lại, tạo điều kiện để CNLĐ có điều kiện học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu  mới.

3. Làm tốt chức năng tham gia quản lý của công đoàn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho CNVCLĐ; tăng cường các hoạt động nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho CNLĐ; thực hiện có hiệu quả tổ chức Tết sum vầy hàng năm chăm lo lợi đời sống người lao động, Chương trình phúc lợi cho đoàn viên, tham gia với tỉnh và TLĐ đầu tư xây dựng thiết  chế công đoàn ở khu công nghiệp, khu kinh tế.

4. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trong CNVCLĐ. Tập trung tôn vinh, khen thưởng những CNVCLĐ tiêu biểu, có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất và công tác; xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến các gương “Người tốt, việc tốt” trong CNVCLĐ.

5. Đẩy mạnh công tác phát triển đoàn viên và thành lập CĐCS; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của tổ chức công đoàn cho phù hợp từng loại hình doanh nghiệp, qua đó nâng cao chất lượng hoạt động của công đoàn. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn, nhất là cán bộ xuất thân từ phong trào công nhân. Quan tâm giới thiệu phát triển Đảng trong đối tượng công nhân.