Bạn đang ở mục Công tác công đoàn Những bức xúc của công nhân, lao động hiện nay và biện pháp giải quyết



Những bức xúc của công nhân, lao động hiện nay và biện pháp giải quyết

Email In
Vấn đề đáng quan tâm trước hết là việc làm của công nhân. Hiện nay, số lao động thất nghiệp, phải hưởng trợ cấp thất nghiệp ngày càng tăng và đã lên tới hàng trăm ngàn người. Năm 2010, tổng số người đến đăng ký thất nghiệp là 189.611 người; số người thất nghiệp nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp là 162.711 người; số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 156.765 người (Báo cáo số 22/BC- CP ngày 08/3/2011 của Chính phủ về Tình hình quản lý và sử dụng quĩ bảo hiểm xã hội năm 2010). Hàng chục ngàn công nhân, lao động phải nghỉ việc, chờ việc vì các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất hoặc phá sản do chịu tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới. 
Tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức và lao động trong các cơ quan, đơn vị khu vực nhà nước ổn định, được tăng lên theo lộ trình điều chỉnh mức lương tối thiểu của Nhà nước với mức tăng bình quân 12,3%/năm. Năm 2009 mức lương tối thiểu là 640.000 đồng, năm 2010 là 730.000 đồng, năm 2011 là 830.000 đồng, đến tháng 5-2012 là 1.050.000 đồng. Các doanh nghiệp áp dụng mức lương tối thiểu theo 4 vùng từ 1,4 đến 2 triệu đồng.Vào thời điểm cuối năm 2011, lương bình quân của công nhân, lao động trong doanh nghiệp nhà nước là 3,8 triệu đồng; doanh nghiệp tư nhân là 2,7 triệu đồng; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 3,0 triệu đồng.
 Bình quân thu nhập của người lao động trực tiếp sản xuất trong các loại hình doanh nghiệp cũng được tăng lên nhưng cũng chỉ đạt bình quân khoảng 3,2 triệu đồng/người/tháng; tình trạng nợ lương người lao động ở các ngành xây dựng, giao thông vận tải vẫn chậm khắc phục… Do thu nhập thấp, giá cả hàng hoá tiêu dùng, các dịch vụ xã hội thiết yếu liên tục tăng cao nên nhìn chung đời sống vật chất và tinh thần của công nhân, viên chức, lao động còn gặp rất nhiều khó khăn.
Nhà ở cho công nhân, lao động, nhà trẻ cho con công nhân, lao động ở các tỉnh, thành phố lớn, khu chế xuất, khu công nghiệp vẫn là yêu cầu rất bức xúc. Một số địa phương, doanh nghiệp triển khai kế hoạch xây nhà ở cho công nhân nhưng vẫn gặp rất nhiều khó khăn, bất cập, mới chỉ đáp ứng được tỷ lệ rất nhỏ, nhu cầu của công nhân về nhà ở hàng chục vạn công nhân, lao động vẫn phải tự thuê chỗ ở, sống và sinh hoạt trong những khu nhà trọ tạm bợ, thiếu thốn, không đảm bảo các điều kiện sống tối thiểu, không an toàn, dễ phát sinh các tệ nạn xã hội.
Những năm qua, nhiều doanh nghiệp lớn đã cố gắng, chú ý hơn đến việc áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật mới, đầu tư máy móc, thiết bị tiên tiến, hiện đại, góp phần cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Song, nhìn chung điều kiện và môi trường làm việc trong nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước còn thấp kém. Tình trạng công nhân, lao động phải lao động thủ công, nặng nhọc, làm việc với các máy móc, thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, trong môi trường không đảm bảo an toàn và điều kiện vệ sinh vẫn còn khá phổ biến ở nhiều doanh nghiệp. Môi trường lao động bị ô nhiễm về bụi, ồn, rung, nóng, hơi khí độc…; thiết bị, công nghệ lạc hậu so với thế giới từ 15- 30 năm; tỷ lệ cơ khí hoá, tự động hoá dưới 10%.
Số vụ tai nạn lao động, nhất là tai nạn lao động chết người xảy ra hàng năm vẫn còn nhiều. Năm 2009, cả nước xảy ra 6250 vụ tai nạn lao động, làm chết 507 người; năm 2010 xảy ra 5125 vụ, làm chết 601 người. Tai nạn lao động tăng trung bình hàng năm 8,9% về số vụ và 7,8% về số người chết. Riêng khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng từ 26- 42,4%.
Tình trạng nợ, chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội, tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước, với số tiền hàng ngàn tỷ đồng. Tính đến 30/9/2011, nợ BHXH là hơn 4,5 nghìn tỷ đồng, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của hàng chục ngàn công nhân, lao động.
Quan hệ lao động trong khu vực doanh nghiệp nhà nước về cơ bản vẫn giữ được sự ổn định. Quan hệ lao động ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài nhiều nơi vẫn diễn biến phức tạp, do tiền lương, thu nhập của công nhân, lao động quá thấp, chế độ đãi ngộ của chủ doanh nghiệp không tốt; nhiều chủ doanh nghiệp không thực hiện đúng pháp luật lao động và những cam kết, thoả thuận với người lao động, nhất là các qui định về hợp đồng lao động, tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, thời giờ làm việc và nghỉ ngơi, điều kiện làm việc… Đây là nguyên nhân chính dẫn đến xung đột, tranh chấp lao động, ngừng việc tập thể và đình công tự phát ngày càng tăng. Trong ba năm (2009, 2010, 2011), cả nước đã xảy ra 1.712 cuộc đình công của công nhân, lao động. Phần lớn các cuộc đình công xảy ra ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (chiếm 76,5%) và không theo đúng trình tự qui định của pháp luật. Ở một số nơi có tình trạng công nhân bị lôi kéo, kích động tham gia đình công.  
Các biện pháp giải quyết những vấn đề bức xúc, cấp thiết của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
Nhà nước cần quy hoạch và phát triển rộng khắp các cơ sở giới thiệu việc làm ở các địa phương, nhất là các vùng kinh tế trọng điểm; tăng đầu tư mở rộng thị trường xuất khẩu lao động sang các nước, các khu vực phù hợp với lao động Việt Nam; Xây dựng, hoàn thiện chính sách tiền lương trên nguyên tắc tiền lương và thu nhập trả cho người lao động phải đảm bảo đủ sống ở mức trung bình của xã hội trở lên.
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 18/NQ- CP ngày 20/4/2009 về “Một số cơ chế, chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển nhà ở cho học sinh, sinh viên, các cơ sở đào tạo và nhà ở cho công nhân, lao động tại các khu công nghiệp tập trung, người có thu nhập thấp tại khu đô thị” và Quyết định số 66/2009/QĐ- TTg ngày 24/4/2009 về “Ban hành một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho công nhân, lao động các khu công nghiệp thuê”. Mặt khác, Nhà nước cần có chính sách ư­u đãi cần thiết để khuyến khích các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư­ xây dựng nhà ở cho công nhân.
Thực hiện quyền làm chủ, dân chủ, công khai, công bằng xã hội. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật lao động; sửa đổi, bổ sung Luật Công đoàn, Bộ luật Lao động; thúc đẩy quan hệ đối thoại, th­ương lượng, thỏa thuận giữa các bên về quan hệ lao động theo đúng nguyên tắc thị trường, nhất là liên quan đến thiết lập và vận hành cơ chế hai bên ở doanh nghiệp và cấp ngành.
Xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong doanh nghiệp. Kiên quyết chống tệ quan liêu, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi ở một số cán bộ có chức, có quyền. Bồi dưỡng nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với việc xây dựng GCCN. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI của Đảng.
Các cấp công đoàn cần đẩy mạnh các hoạt động chăm lo đời sống, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công nhân, viên chức, lao động; tham gia thương lượng, ký kết và thực hiện tốt thỏa ước lao động tập thể; đẩy mạnh công tác kết nạp đoàn viên, xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh; tổ chức hoạt động “Tháng Công nhân” có hiệu quả, thiết thực.
                                                                               Theo congdoanvn.org.vn