Bạn đang ở mục Công tác công đoàn Đẩy mạnh hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong doanh nghiệp



Đẩy mạnh hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong doanh nghiệp

Email In
1. Vai trò, vị thế của công đoàn cơ sở doanh nghiệp
Điều 10 Luật Công đoàn - 2012 quy định công đoàn có quyền đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Nội dung chủ yếu là: 1. Hướng dẫn, tư vấn cho người lao động về quyền, nghĩa vụ khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động. 2. Đại diện cho tập thể người lao động thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thoả ước lao động tập thể. 3. Tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện thang, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động. 4. Đối thoại với đơn vị sử dụng lao động để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động. 5. Tổ chức hoạt động tư vấn pháp luật cho người lao động. 6. Tham gia với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động. 7. Kiến nghị với tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể người lao động hoặc của người lao động bị xâm phạm. 8. Đại diện cho tập thể người lao động (hoặc người lao động) khởi kiện tại Toà án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng bị xâm phạm; (và được người lao động uỷ quyền). 9. Đại diện cho tập thể người lao động tham gia tố tụng trong vụ án lao động, hành chính, phá sản doanh nghiệp. 10. Tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định của pháp luật.
Điều 11 Luật Công đoàn - 2012 quy định quyền trách nhiệm của công đoàn trong việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội. Nội dung chủ yếu là: 1/. Tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng chính sách, pháp luật về kinh tế - xã hội, lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động và chính sách, pháp luật khác liên quan đến tổ chức công đoàn, quyền, nghĩa vụ của người lao động. 2/. Phối hợp với cơ quan nhà nước nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật bảo hộ lao động, xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn an toàn, vệ sinh lao động. 3/. Tham gia với cơ quan nhà nước quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; giải quyết khiếu nại, tố cáo của người lao động, tập thể người lao động theo quy định của pháp luật. 4/. Tham gia xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. 5/. Tham gia xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. 6/. Phối hợp tổ chức phong trào thi đua trong phạm vi ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
Đó là những cơ sở pháp lý cho công đoàn cơ sở hoạt động, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho công nhân, lao động.
                 
2. Công đoàn cơ sở bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, lao động (trong điều kiện hiện nay)
Trong thời gian gần đây, công đoàn cơ sở đã được phát triển thêm (đến tháng 5-2012 đã có hơn 113 000). Trong các doanh nghiệp, công đoàn cơ sở tích cực tuyên truyền, vận động CNLĐ thực hiện nghiêm túc các quy định về an toàn – vệ sinh lao động. Tổ chức vận động và thực hiện tốt chính sách, pháp luật đối với CNLĐ. Thương lượng, đối thoại, thỏa ước lao động tập thể, giúp CN ký hợp đồng lao động. Chăm lo việc làm, đời sống người lao động. Vận động chủ nhà trọ không tăng tiền thuê nhà cho công nhân; thu tiền điện, nước theo đúng giá quy định. Vận động các doanh nghiệp hỗ trợ tiền nhà hoặc tăng tiền hỗ trợ tiền thuê nhà cho CNLĐ. Vận động các chủ nhà trẻ, trường, lớp mẫu giáo tư thục không tăng giá trông giữ trẻ. Công đoàn chăm lo bữa ăn ca và đưa hàng bình ổn giá về phục vụ người lao động. Công đoàn một số khu công nghiệp, khu chế xuất đã có sáng kiến mở các quầy hàng cho công nhân với mức giá thấp so với giá thị trường từ 5 đến 15%.
Tuy nhiên, hoạt động công đoàn cơ sở các doanh nghiệp còn một số hạn chế: Một số quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân bị vi phạm nhưng chưa được công đoàn bảo vệ có hiệu quả. Công tác kiểm tra, giám sát của công đoàn trong thực hiện chế độ chính sách, pháp luật đối với CNLĐ còn ít. Ở một số doanh nghiệp FDI, công nhân chưa thiết tha gắn bó với công đoàn. Công đoàn chưa tổ chức lãnh đạo đình công. Năng lực cán bộ công đoàn cơ sở còn yếu; khả năng đại diện thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể, tham gia xây dựng thang bảng lương, định mức lao động chưa cao....
Tính từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 6 năm 2011, số cuộc ngừng việc tập thể và đình công là 3602 cuộc, trong đó, đình công xảy ra ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 2718 cuộc, chiếm tỷ lệ 75,4%; Riêng 6 tháng đầu năm 2012 có 331 cuộc; trong đó doanh nghiệp FDI có 259 cuộc chiếm 78,25%. Ở các doanh nghiệp có vốn của Đài Loan xảy ra 105 cuộc, chiếm 40,53% tổng số cuộc đình công đã xảy ra ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Ở các doanh nghiệp có vốn của Hàn Quốc là 80 cuộc, chiếm 30,89% . Ở DN của Nhật có 18 cuộc, chiếm 6,96%. Ở các doanh nghiệp có vốn của các đối tác đầu tư nước ngoài khác là 56 cuộc, chiếm 21,62% tổng số cuộc đình công đã xảy ra ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
                
Nguyên nhân chính của tranh chấp lao động là do doanh nghiệp vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNLĐ; Do công nhân thiếu hiểu biết pháp luật lao động; sự khác biệt về văn hóa giữa người quản lý nước ngoài và CNLĐ; Công đoàn cơ sở chưa thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNLĐ. một số doanh nghiệp FDI, CNLĐ chưa thật sự tin tưởng vào cán bộ công đoàn cơ sở. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động của CĐCS trong doanh nghiệpFDI hiệu quả chưa cao. Nội dung, phương pháp hoạt động công đoàn cơ sở chưa phù hợp với loại hình doanh nghiệp FDI; Công tác kiểm tra, đánh giá, tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm trong tổ chức, hoạt động còn ít. Tổ chức, hoạt động công đoàn còn bị động, lúng túng trước sự thay đổi của cơ chế nhất là khi tranh chấp lao động, đình công xảy ra. Đội ngũ cán bộ CĐCS thường xuyên biến động, trình độ, năng lực còn hạn chế so với yêu cầu. khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, vị thế của cán bộ công đoàn bị lệ thuộc về mặt kinh tế và quản lý lao động của doanh nghiệp. Cán bộ công đoàn hoạt động kiêm nhiệm; ít thời gian dành cho hoạt động công đoàn. Cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn cũng chưa đồng bộ và chưa được tổ chức thực hiện nghiêm.
Để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong doanh nghiệp cần thực hiện tốt các biện pháp như: a) Tăng cường thương lượng,xây dựng và thực hiện tốt thỏa ước lao động tập thể. b) Nâng cao năng lực đàm phán, thương lượng, ký thỏa ước lao động tập thể củacán bộ công đoàn cơ sở. c) Xây dựng các thỏa ước lao động tập thể cấp tổng công ty, ngành làm cơ sở cho việc thương lượng, ký thỏa ước lao động tập thể ở doanh nghiệp. d) Tuyên truyền, vận động người sử dụng lao động và người lao động tuân thủ Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn. đ) Kết hợp sức mạnh từ nhiều nguồn trong thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể (công đoàn cấp trên, cơ quan quản lý nhà nước, báo chí, dư luận, khách hàng, công ty mẹ, tổ chức của người sử dụng lao động...). e) Công đoàn tích cực tham gia giám sát, kiểm tra thực hiện pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp, đề xuất, kiến nghị xử lý những hành vi vi phạm pháp luật lao động.
                                                                          Theo congdoanvn.org.vn