Bạn đang ở mục Trang chủ

Hơn 400 CNVCLĐ huyện Phù Cát tham gia hiến máu tình nguyện đợt 1/2017.
      Vừa qua, LĐLĐ huyện phối hợp với Ban vận động hiến máu tình nguyện huyện Phù Cát đã tổ chức hiến máu tình nguyện đợt 1 năm 2017. Đợt hiến máu tình nguyện lần này thu hút hơn 400 cán bộ đoàn viên, CNVCLĐ tham gia, kết quả đã thu được 357 đơn vị máu. CNVCLĐ huyện Phù Cát tham gia hiến máu tình nguyện Đây là một hoạt động mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc và là một trong những hoạt động xã hội, từ thiện thường niên của cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ huyện Phù Cát.
Chi bộ Ủy Ban kiểm tra – Nữ công – TT.Tư vấn pháp luật tổ chức Lễ kết nạp đảng viên
      Ngày 10/02/2017, Chi bộ Ủy Ban kiểm tra – Nữ công – TT.Tư vấn pháp luật thuộc Đảng bộ LĐLĐ tỉnh Bình Định đã tổ chức Lễ kết nạp đảng viên cho quần chúng Nguyễn Thị Thúy Hằng, công tác tại Trung tâm tư vấn pháp luật công đoàn Bình Định. Đến dự buổi lễ có đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng – Bí thư đảng ủy LĐLĐ tỉnh và các đảng viên trong chi bộ ĐC Dương Lê Hồng Thủy - Bí thư Chi bộ Ủy Ban kiểm tra – Nữ công – TT.Tư vấn pháp luật công bố Quyết định Kết nạp đảng viên của Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh Bình Định Tại buổi lễ, đồng chí Dương Lê Hồng Thủy - Bí thư Chi bộ đã công bố và trao quyết định Kết nạp đảng viên của Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh Bình Định cho đồng chí Nguyễn Thị Thúy Hằng. Nêu rõ nhiệm vụ, quyền hạn của người đảng viên, nhiệm vụ của chi bộ và phân công đảng viên chính thức giúp đỡ đảng viên dự bị. Đồng thời tin tưởng, trong thời gian là đảng viên dự bị, đồng chí Hằng sẽ tiếp tục phấn đấu rèn luyện, tu dưỡng về tư tưởng, chính trị, đạo đức tác phong và chuyên môn nghiệp vụ để sau thời gian 12 tháng có đủ điều kiện được công nhận đảng viên chính thức, và việc đảng viên được kết nạp lần này sẽ tăng cường lực lượng nòng cốt, tiên phong góp phần xây dựng chi bộ ngày càng vững mạnh. Trao quyết định kết nạp cho đảng viên Nguyễn Thị Thúy Hằng Đồng chí Nguyễn Thị Thúy Hằng được đứng vào hàng ngũ của Đảng đã nâng tổng số đảng viên của Đảng bộ LĐLĐ tỉnh lên 51 đảng viên, sinh hoạt tại 7 chi bộ trực thuộc.
Tình hình thực hiện lương, thưởng tháng 1,2/2017 và trao quà cho CNLĐ trong dịp tết Đinh Dậu
      Trong dịp tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017, các cấp công đoàn trong tỉnh Bình Định đã khảo sát, nắm tình hình thực hiện việc trả lương, thưởng cho CNVCLĐ trong tháng Tết ở các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Kết quả tổng hợp cho thấy, việc thực hiện pháp luật lao động, nhất là vấn đề tiền lương, thưởng cuối năm cho CNVCLĐ được hầu hết doanh nghiệp thực hiện khá tốt, thu nhập của người lao động ổn định, chưa có phản ảnh về tình trạng nợ lương công nhân. Trao quà cho công nhân có hoàn cảnh khó khăn trong chương trình “Tết Sum vầy” năm 2017 Các doanh nghiệp được khảo sát đều quan tâm đến kế hoạch thưởng Tết và thông báo cho người lao động về ngày trả lương, thưởng, tặng quà của công đoàn cho công nhân. Theo thống kê chưa đầy đủ từ các cấp công công đoàn thì mức lương bình quân tháng 1 và 2/2017 tại các Doanh nghiệp Nhà nước là 4.200.000 đồng/người, Doanh nghiệp FDI là 3.900.000 đồng/người, Doanh nghiệp ngoài nhà nước là 3.500.000 đồng/người. Mức thưởng Tết được thực hiện theo hình thức bình xét, xếp loại và hiệu quả công việc, theo đó mức thưởng cao nhất 89.000.000 đồng và thấp nhất là 200.000 đồng. Khối các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có mức thưởng phổ biến dao động từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng. Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng – Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Bình Định thăm và trào quà hỗ trợ CNLĐ vùng lũ xã Cát Hanh, huyện Phù Cát Cũng trong dịp tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017, LĐLĐ tỉnh đã phân bổ 1.425 suất quà với tổng kinh phí 712,5 triệu đồng để các cấp công đoàn trao cho CNVCLĐ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bị nợ lương kéo dài, bị tai nạn lao động nặng, bị thiệt hại do lũ lụt; bàn giao 02 nhà Mái ấm Công đoàn cho CNVCLĐ với số tiền hơn 80 triệu đồng. Các công đoàn huyện ngành và CĐCS trao 1.574 suất quà với tổng kinh phí 517,3 triệu đồng, thăm và tặng 88 suất quà cho cán bộ công đoàn với tổng số tiền 59,1 triệu đồng. Ngoài ra, LĐLĐ tỉnh cũng đã trao 540 suất quà, trị giá 298,5 triệu đồng cho CNLĐ trong chương trình "Tết Sum vầy" năm 2017
52 đoàn với hơn 350 VĐV tham gia giải Bóng chuyền và Cầu lông cán bộ, giáo viên ngành Giáo dục
      Tối ngày 09/2/2017, tại Nhà thi đấu Trung huấn luyện và thi đấu thể thao tỉnh đã diễn ra Lễ khai mạc vòng chung kết giải Bóng chuyền và Cầu lông cán bộ, giáo viên ngành Giáo dục tỉnh Bình Định năm 2017, có 52 đoàn với hơn 350 vận động viên tham gia. Đây là giải thi đấu do Sở Giáo dục Đào tạo phối hợp cùng Công đoàn ngành giáo dục tổ chức, nằm trong chuỗi hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân, chào mừng kỉ niệm 87 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và 42 năm tỉnh Bình Định được hoàn toàn giải phóng ( 31/3/1975-31/3/2017). Các đoàn vận động viên tại Lễ khai mạc Được biết, trước lễ khai mạc đã tiến hành thi đấu của từng cụm thi đua, chọn điển hình tham gia chung kết. Dự kiến Lễ bế mạc và trao giải sẽ được tổ chức vào lúc 19 giờ ngày 12/2/2017.
Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn tổ chức Hội nghị cán bộ công chức năm 2017
      Chiều ngày 10/01, Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Quy Nhơn tổ chức Hội nghị cán bộ công chức năm 2017. Đồng chí Đặng Thành Thái - Phó Chánh án TAND tỉnh, đồng chí Phạm Thị Thanh Tùng - Phó Chủ tịch LĐLĐ thành phố Quy Nhơn đến dự và chỉ đạo hội nghị. Năm 2016, CĐCS TAND thành phố Quy Nhơn phối hợp với chính quyền chăm lo tốt đời sống đoàn viên, cán bộ, công chức cơ quan; đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, thể thao, công tác thi đua khen thưởng tiếp tục được duy trì, củng cố. Phong trào thi đua đã đạt nhiều kết quả, là động lực thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ chính trị và các chỉ tiêu công tác chuyên môn. Trong năm, TAND thành phố Quy Nhơn đã thụ lý 1.894 vụ án, giải quyết 1.863 vụ án các loại, đạt tỷ lệ 96,6%. Công tác xét xử lưu động được tăng cường; công tác xét xử án hình sự không để xảy ra trường hợp kết án oan người không tội. Các vụ án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng cho các bên đương sự. TAND thành phố Quy Nhơn thực hiện tốt việc cải cách hành chính Nhà nước, giải quyết đúng và kịp thời đơn thư khiếu nại của công dân, công khai niêm yết các thủ tục hành chính liên quan đến chính sách pháp luật để nhân dân tìm hiểu và thực hiện.  Quang cảnh hội nghị Kết quả, đơn vị đạt danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc, được Chánh án TAND Tối cao tặng Bằng khen, 14 cá nhân được TAND tỉnh tặng Giấy khen; CĐCS TAND thành phố Quy Nhơn được công nhận là tổ chức công đoàn vững mạnh, được LĐLĐ tỉnh tặng Bằng khen; 1 cá nhân được LĐLĐ tỉnh tặng bằng khen, 1 cá nhân được UBND TP. Quy Nhơn ặng Giấy khen… Ông Đặng Thành Thái - Phó Chánh án TAND tỉnh đã biểu dương những kết quả công tác trong năm 2016 của TAND thành phố Quy Nhơn, đồng thời chỉ ra những mặt tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác; đồng chí đề nghị TAND thành phố Quy Nhơn cần đề ra giải pháp khắc phục kịp thời, hữu hiệu, tập trung nâng cao chất lượng công tác xét xử, đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, nâng cao chất lượng cán bộ, đưa hoạt động của đơn vị ngày càng đạt kết quả cao hơn. Đ/c Phạm Thị Thanh Tùng - Phó Chủ tịch LĐLĐ thành phố Quy Nhơn phát biểu chỉ đạo hội nghị Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, đồng chí Phạm Thị Thanh Tùng - Phó Chủ tịch LĐLĐ thành phố Quy Nhơn nhấn mạnh: để phát huy hơn nữa những thành tích đạt được, CĐCS TAND thành phố Quy Nhơn cần tăng cường công tác phối hợp với chính quyền, duy trì và phát huy hiệu quả các phong trào thi đua gắn với nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị; đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục; triển khai các hoạt động giao lưu với các đơn vị trong Cụm thi đua; chuẩn bị tốt đề án nhân sự, nội dung Đại hội của đơn vị trong nhiệm kỳ mới; đoàn viên, cán bộ, công chức cơ quan cần phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra. Hội nghị đã bầu Ban thanh tra nhân dân (nhiệm kỳ 2017 - 2019) gồm 3 đồng chí, phát động phong trào thi đua và ký kết giao ước thi đua năm 2017.

bacho



THÔNG BÁO - MỜI HỌP

  Lịch công tác của Liên đoàn Lao động tỉnh từ ngày 20/02 đến ngày 26/02/2017 được đăng tải trên Trang thông tin điện tử Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Định tại mục Văn bản.

  • TIN HOẠT ĐỘNG

  • LĐLĐ tỉnh

  • LĐLĐ huyện, thị xã, thành phố

  • Công đoàn ngành

  • Công đoàn cơ sở

  • Tin trong tỉnh



   Hơn 400 CNVCLĐ huyện Phù Cát tham gia hiến máu tình nguyện đợt 1/2017.

    Vừa qua, LĐLĐ huyện phối hợp với Ban vận động hiến máu tình nguyện huyện Phù Cát đã tổ chức hiến máu tình nguyện đợt 1 năm 2017. Đợt hiến máu tình nguyện lần này thu hút hơn 400 cán bộ đoàn viên, CNVCLĐ tham gia, kết quả đã thu được 357 đơn vị máu. CNVCLĐ huyện Phù Cát tham gia hiến máu tình nguyện Đây là một hoạt động mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc và là một trong những hoạt động xã hội, từ thiện thường niên của cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ huyện Phù Cát....


   Đảng bộ LĐLĐ tỉnh tổ chức hội nghị quán triệt Nghị quyết TW 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng

    Ngày 14/02, Đảng bộ LĐLĐ tỉnh tổ chức hội nghị quán triệt Nghị quyết TW 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng cho toàn thể đảng viên và quần chúng thuộc cơ quan LĐLĐ tỉnh, Công đoàn viên chức tỉnh, Công đoàn Khu kinh tế tỉnh và các đơn vị kinh tế - sự nghiệp trực thuộc LĐLĐ tỉnh. Tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng - Bí thư Đảng bộ, Chủ tịch LĐLĐ tỉnh đã quán triệt, triển khai những nội dung cơ bản trong các văn kiện Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII), gồm: Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; Nghị quyết số 05-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế; Nghị quyết số 06- NQ/TW về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị- xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Quang cảnh hội nghị Đồng chí nhấn mạnh, Nghị quyết TW 4 (khóa XII) thể hiện rõ quyết tâm chính trị rất lớn và tư tưởng nhất quán của Đảng ta về tầm quan trọng đặc biệt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc tổ chức thực hiện có kết quả các Nghị quyết, Kết luận tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) sẽ góp phần quan trọng đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đi vào cuộc sống, thúc đẩy việc hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế, giữ vững ổn định chính trị- xã hội và xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Đ/c Nguyễn Mạnh Hùng - Bí thư Đảng bộ, Chủ tịch LĐLĐ tỉnh báo cáo các nội dung tại Hội nghị Tại hội nghị, các đảng viên và quần chúng còn được thông tin về việc “Đẩy mạnh học tập, làm theo những nội dung cốt lõi về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị”; một số kết quả nổi bật trong chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và dự báo quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong thời gian tới; phổ biến những luận điểm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, có ý nghĩa chỉ đạo quan trọng của Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng. Qua hội nghị, các cấp ủy Đảng, cán bộ, đảng viên và quần chúng trong Đảng bộ LĐLĐ tỉnh nắm vững những nội dung cơ bản trong các văn kiện Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII); những quan điểm chỉ đạo, công việc cần triển khai trong tổ chức thực hiện; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động, đem lại hiệu quả công việc trên cương vị công tác tại cơ quan, đơn vị....


   Hơn 400 CNVCLĐ huyện Phù Cát tham gia hiến máu tình nguyện đợt 1/2017.

    Vừa qua, LĐLĐ huyện phối hợp với Ban vận động hiến máu tình nguyện huyện Phù Cát đã tổ chức hiến máu tình nguyện đợt 1 năm 2017. Đợt hiến máu tình nguyện lần này thu hút hơn 400 cán bộ đoàn viên, CNVCLĐ tham gia, kết quả đã thu được 357 đơn vị máu. CNVCLĐ huyện Phù Cát tham gia hiến máu tình nguyện Đây là một hoạt động mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc và là một trong những hoạt động xã hội, từ thiện thường niên của cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ huyện Phù Cát....


   Công đoàn Công thương Việt Nam triển khai nhiệm vụ công tác năm 2017

    Sáng 17.2, tại TP. Quy Nhơn (Bình Định), Công đoàn Công thương Việt Nam (CĐCTVN) tổ chức hội nghị tổng kết công tác năm 2016 và triển khai công tác năm 2017. Đồng chí Nguyễn Thị Thu Hồng - Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam đến dự và chỉ đạo hội nghị.   Quang cảnh hội nghị Công đoàn Công thương Việt Nam triển khai nhiệm vụ năm 2017 Theo báo cáo tại hội nghị, trong năm 2016, CĐ Công thương Việt Nam đã triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình, kế hoạch công tác, động viên CNVCLĐ và tổ chức công đoàn ngành hăng hái phấn đấu, góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạch SXKD và nhiệm vụ công tác của đơn vị, xây dựng đội ngũ cán bộ, CNVCLĐ và tổ chức công đoàn vững mạnh. Các hoạt động CĐCTVN và CĐCS các cấp đều tập trung vào việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ theo Nghị quyết Đại hội XI Công đoàn Việt Nam, Nghị quyết Đại hội II CĐCTVN và 5 chương trình toàn khóa của CĐCTVN đã được cụ thể hóa thành kế hoạch phù hợp với thực tiễn của Ngành. Trong năm qua, CĐCTVN đã tích cực tuyên truyền vai trò của Thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT) gắn với trách nhiệm và quyền lợi của người lao động, vì vậy việc ký kết TƯLĐTT tại các doanh nghiệp đạt trên 90%, trong đó các doanh nghiệp nhà nước đạt từ 97-98%, các doanh nghiệp FDI đạt trên 80%. Bên cạnh đó, các cấp Công đoàn trong Ngành có nhiều hoạt động hỗ trợ và luôn quan tâm đến người lao động có hoàn cảnh khó khăn, trao tặng “Nhà mái ấm công đoàn” và các hoạt động xã hội của Ngành với tổng số tiền hơn 2,8 tỉ đồng.   Đại biểu tham dự hội nghị.  Một trong những điểm nổi bật và tạo sức lan tỏa trong phong trào thi đua yêu nước của công đoàn toàn Ngành đó là phong trào “lao động giỏi, lao động sáng tạo”, “Chung tay xây dựng nông thôn mới”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, “Mẹ lao động giỏi, con học giỏi”… Trong năm 2016, toàn Ngành đã có 16.200 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, giải pháp đã làm lợi trên 3.300 tỉ đồng và được Tổng LĐLĐ Việt Nam trao tặng nhiều Bằng Lao động sáng tạo cho các cá nhân có thành tích xuất sắc, trong đó có nhiều công nhân lao động trực tiếp sản xuất tại các đơn vị. Cũng tại hội nghị lần này, CĐCTVN đã đề ra 10 nội dung trọng tâm công tác năm 2017, trong đó chú trọng công tác chuẩn bị việc tiến hành tổ chức Đại hội công đoàn các cấp, tiến đến Đại hội Công đoàn Công thương Việt Nam lần thứ III.   Các tập thể đón nhận Cờ thi đua của Tổng LĐLĐ VN. Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hồng ghi nhận và đánh giá cao sự nỗ lực và những kết quả đạt được của toàn thể cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ trong toàn ngành Công đoàn Công thương Việt Nam trước những khó khăn và thách thức trong năm 2016 vừa qua. Trong năm 2017, trước những cơ hội và thách thức mới của cơ chế, điều kiện khách quan và chủ quan, đồng chí Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam lưu ý, Công đoàn Công thương Việt Nam cần có những định hướng cụ thể, thiết thực chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng cho người lao động, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ công tác đã đề ra. Ghi nhận những thành tích thi đua của các tập thể và cá nhân trong năm qua, nhân hội nghị, Công đoàn Công thương Việt Nam đã tổ chức trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba cho 2 cá nhân; trao tặng Bằng khen của Chính phủ cho 7 tập thể và 2 cá nhân; Trao tặng Cờ thi đua của Tổng LĐLĐ Việt Nam cho 33 tập thể và có 39 tập thể, 86 cá nhân được tặng Bằng khen của Tổng LĐLĐ VN; 60 tập thể được tặng Cờ thi đua của Công đoàn Công thương Việt Nam.   Công đoàn Công thương Việt Nam trao tặng tiền hỗ trợ cho đại diện lãnh đạo công đoàn 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên và Quảng Ngãi. Cũng trong dịp này, Công đoàn Công thương Việt Nam trao hỗ trợ tổng số tiền 150 triệu đồng cho nhân dân 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên và Quảng Ngãi bị thiệt hại trong lũ lụt thiên tai cuối năm 2016 vừa qua....


   112 cán bộ, CNLĐ đại diện hơn 1.000 lao động Công ty Cổ phần May Bình Định dự Hội nghị Người lao động năm 2017

    Ngày 18/02/2017, Công ty cổ phần May Bình Định tổ chức Hội nghị người lao động năm 2017, với sự tham dự của 112 cán bộ, CNLĐ đại diện hơn 1.000 lao động trong công ty. Hội nghị đã đánh giá kết quả tình hình sản xuất kinh doanh năm 2016, phân tích những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhất là nguyên nhân chủ quan về cán bộ quản lý điều hành và tác nghiệp của người lao động. Đại biểu cán bộ, CNLĐ Công ty CP May Bình Định tham dự Hội nghị Có 14 kiến nghị được tập hợp từ hội nghị các phòng, ban, phân  xưởng được Tổng Giám đốc Lê Dân tiếp thu, giải trình và 7 ý kiến tham luận làm rõ thêm báo cáo. Hội nghị cũng đã bầu tổ đối thoại gồm 4 thành viên. ĐC Nguyễn Ngọc Anh Phó - Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Bình Định phát biểu chỉ đạo tại hội nghị Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Bình Định Nguyễn Ngọc Anh đã đánh giá cao những cố gắng và kết quả đạt được của công ty trong năm 2016, chia sẻ những khó khăn chung của toàn ngành May và tính đặc thù của Công ty trước tác động tiêu cực của tình hình hội nhập quốc tế. Đồng thời đề nghị Ban lãnh đạo Công ty cần động viên cán bộ, CNLĐ nỗ lực thực hiện các mục tiêu, 4 nhiệm vụ và 6 giải pháp. Chú trọng công tác tuyên truyền giáo dục cho CNLĐ thông suốt những nhiệm vụ của công ty để có nhận thức đúng và hành động thiết thực, hiệu quả. Quan tâm đến đào tạo nhân lực, nâng cao năng lực quản lý điều hành và phát huy sáng kiến, sáng tạo, sở trường của CNLĐ. Động viên thi đua, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Chăm lo mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của người lao động, nhất là lao động nữ chiếm số đông. Phát huy vai trò và sự phối hợp đồng bộ của các đoàn thể quần chúng, sự lãnh đạo chỉ đạo của cấp ủy Đảng hoàn thành nhiệm vụ chính trị năm 2017 đã đề ra....


   Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị Báo cáo viên tháng 2/2017

    Sáng 8/2/2017, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức hội nghị Báo cáo viên các tỉnh ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương tháng 2/2017 bằng hình thức trực tuyến, tại 55 điểm cầu trên cả nước. Điểm cầu Bình Định do đồng chí Nguyễn Giờ - Ủy viên BTV tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh ủy chủ trì với sự tham gia của đội ngũ báo cáo viên các ngành, đơn vị, địa phương trong tỉnh. Tại Hội nghị lần này, các Báo cáo viên Trung ương đã cung cấp thông tin về các chuyên đề “Những kết quả nổi bật chuyến thăm chính thức Trung Quốc của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và dự báo quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong thời gian tới” ; “Đẩy mạnh Học tập, làm theo những nội dung cốt lõi tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị” và định hướng công tác tuyên truyền trong thời gian tới. Tại hội nghị, Đồng chí Nguyễn Giờ đã nhấn mạnh yêu cầu, trên cơ sở nội dung thông tin thống nhất do Báo cáo viên Trung ương cung cấp trên phạm vi cả nước, ngay sau Hội nghị đội ngũ báo cáo viên các ngành, địa phương, đơn vị trong tỉnh cần tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân....
  • CÁC CHUYÊN ĐỀ

  • Tuyên giáo

  • Chính sách & Pháp luật

  • Tổ chức

  • Tài chính

  • Kiểm tra

  • Nữ công



   Một số điểm mới về phong trào thi đua lao động sáng tạo năm 2016

    Quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về đổi mới công tác thi đua khen thưởng, Chỉ thị 39-CT/TW ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị “về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện và bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến”; Nghị quyết Đại hội XI Công đoàn Việt Nam  và  các văn  bản chỉ đạo, hướng dẫn của Đoàn chủ tịch TLĐ; Nghị quyết Đại hội XII Công đoàn tỉnh Bình Định. Trong những năm 2011 -2016, nhất là năm 2016 vượt qua những khó khăn , thách thức mới, Công đoàn tỉnh Bình Định đã có nhiều đổi mới trong công tác chỉ đạo, điều hành, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua - khen thưởng, phong trào thi đua sáng kiến, lao động sáng tạo nhằm mục đích khơi dậy tính năng động, sáng tạo của cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên công đoàn, công nhân lao động phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. CNVCLĐ Bình Định thi đua lao động, sản xuất (Ảnh chụp tại Công ty Cổ phần Giầy Bình Định) Thực tiễn cho thấy Phong trào thi đua “Lao động sáng tạo” đã trở thành mục tiêu và động lực vượt khó, sáng tạo để tiếp tục phát triển của phong trào CNVCLĐ và họat động công đoàn, góp phần quan trọng  thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh đề ra. Trong vòng 5 năm (2011-2015) có 80 đề tài được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng và Huy hiệu lao động sáng tạo (trong đó 2011 có 25, 2012:17, 2013:11, 2014:6, 2015-2016:21 đề tài). Có 1 tác giả có 5 đề tài (Phạm văn Phú), 2 tác giả có 3 đề tài, có  2 tác giả có 2 đề tài. Có được những kết quả nêu trên nhờ triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp: Một là, Ban chấp hành, BTV Công đoàn tỉnh nghiên cứu quán triệt các văn bản của cấp trên về đổi mới công tác thi đua khen thưởng, từ đó cụ thể hóa thành các văn bản chỉ đạo điều hành của cấp mình cho phù hợp. Sau Đại hội XII Công đoàn tỉnh ban hành Quy chế đổi mới công tác thi đua khen thưởng trong hệ thống công đoàn toàn tỉnh và được chỉnh sửa, hoàn thiện trong quá trình tổ chức thực hiện đi vào cuộc sống. Đồng thời, tổ chức hướng dẫn, tập huấn, triển khai thực hiện nhất quán trong các cấp công đoàn. Trong công tác chỉ đạo và điều hành đã có sự đổi mới, chú trọng đến công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và hành động trong thi đua, nhất là nhân các ngày kỷ niệm, lễ lớn nhằm đem lại lợi ích cho nhà nước, tập thể và mỗi cá nhân, tổ chức tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm kịp thời, quan tâm đến công tác khen thưởng, nhân rộng điển hình nhằm tạo sự lan tỏa phong trào thi đua hàng năm và thi đua đặc biệt. Biểu dương, khen thưởng các tấm gương tiêu biểu trong “Tháng Công nhân” năm 2016 Hai là, phát huy vai trò của Hội đồng xét duyệt thi đua của tỉnh, các thành viên hội đồng gồm: Đại diện lãnh đạo Liên đoàn lao động tỉnh, Sở Khoa học và công nghệ, Liên hiệp các hội khoa học tỉnh, Tỉnh đoàn, Ban Thi đua khen thưởng tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh, do Liên đoàn Lao động tỉnh làm Cơ quan thường trực Hội đồng( Chủ tịch LĐLĐ tỉnh, Phó chủ tịch phụ trách thi đua và ban chính sách – pháp luật LĐLĐ tham mưu giúp việc). Hàng năm Hội đồng có kế hoạch công tác, phân công các thành viên có trách nhiệm trong việc tuyên tuyền, vận động phong trào lao động sáng tạo. Các thành viên hội  đồng thường xuyên sát cơ sở, nghe báo cáo các đề tài từ cơ sở đế có ý kiến chỉnh sửa, hướng dẫn thực  hiện hợp lý, nghe cơ sở tổ chức phản biện, đáng giá chất lượng các đề tài. Nhiều ngành còn tổ chức thành công Hội nghị báo cáo khoa học cấp ngành (Y tế, Giáo dục); ngành Giáo dục có mời các giáo viên đầu ngành, giỏi về các lĩnh vực mà đề tài lao động sáng tạo đang đề cập tới, đồng thời có nhiều giáo viên chuyên ngành ở các trường tham dự để nghe học tập, phổ biến kinh nghiệm. Ba là, nhiều đề tài lao động tác tạo được các tác giả tham gia Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn tỉnh, đã có nhiều giải pháp kỹ thuật đạt giải tại Hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh và Hội thi sáng tạo toàn quốc. Ngược lại, qua kết quả tổ chức Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn tỉnh 2 năm/ 1 lần do Liên hiệp các hội khoa học tỉnh chủ trì gồm các sở ngành tham gia, có đại diện lãnh đạo Liên đoàn Lao động tỉnh làm thành viên ban tổ chức hội thi, nhờ kinh phí hội thi phục vụ cho công tác tuyên tuyền, vận động quảng bá phong trào “Lao động sáng tạo” được sâu rộng đến các địa phương, ngành và cơ sở, thông qua đó, vai trò của tổ chức công đoàn được nâng lên. Những mô hình, điển hình được công đoàn nắm sâu sát, và mỗi khi tham gia hội đồng xét duyệt các danh hiệu thi đua cho tập thể và cá nhân có thành tích, nhất là khen cao thì phải có bằng lao động sáng tạo, sáng  kiến kinh nghiệm đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội Bốn là,  để tạo động lực, khuyến khích phong trào thi đua, Công đoàn tỉnh đã chủ động đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh thường xuyên dành một phần kinh phí để hỗ trợ khen thưởng đối với các tác giả được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng bằng và huy hiệu Lao động sáng tạo (mỗi bằng lao động sáng tạo bằng 2 lần mức lương cơ sở). Nhân hoạt động “ Tháng công nhân”, Công đoàn tỉnh tôn vinh, biểu dương các công nhân lao động tiêu biểu, các cá nhân được tặng bằng và huy hiệu lao động sáng tạo của TLĐ. Nhiều cá nhân sau khi TLĐ xét chưa đạt thì được đề nghị UBND tỉnh tặng bằng khen. Nhiều chủ doanh nghiệp trích quỹ khen thưởng, thưởng nóng cho CNVCLĐ được tăng bằng lao động sáng tạo, nhất là  các giải pháp sáng kiến, sáng tạo, làm lợi cho doanh nghiệp. Năm là, Công đoàn tham gia với chuyên môn có chính sách đào tạo, chăm lo đến sự trưởng thành về chất và lượng của CNVCLĐ nói chung và đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nói riêng, nhằm khơi dậy tiềm năng, trí tuệ, sự đam mê cống hiến của cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý trong công tác nghiên cứu, ứng dụng KHKT mới vào sản xuất và quản lý. Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, công nhân kỹ thuật có tay nghề để tạo ra nhiều sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Sáu là, phải  thường xuyên kiện toàn, củng cố Hội đồng khoa học và hội đồng  xét duyệt lao động sáng tạo các cấp, có quy chế, nội dung, kế hoạch hoạt động cụ thể thiết thực; bố trí cán bộ làm công tác thi đua có năng lực, tham mưu, đề xuất; tổ chức sơ, tổng kết  khen thưởng, nhân điển hình kịp thời. Thường xuyên tổ chức các hội nghị trao đổi kinh nghiệm, sáng kiến, hội thi tuyển chọn công nhân giỏi, xây dựng quỹ hỗ  trợ sáng kiến, sáng tạo, quỹ khuyến khích tài năng trẻ....


   Công đoàn Bình Định sau 30 năm đổi mới (1986-2016)

    Hơn 30 năm qua,  thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta  khởi xướng và lãnh đạo, bắt đầu từ Nghị quyết Đại hội VI của Đảng (12- 1986), với tinh thần đổi mới “ Nhìn thẳng vào sự thật và nói đúng sự thật, nói rõ sự thật”,  nhất là từ khi tái lập tỉnh Bình Định (1989 -2016),  trong tiến trình đổi mới chung của đất nước, Công đoàn tỉnh Bình Định đã bám sát sự chỉ đạo của Đảng, của Tỉnh ủy  và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động. Các kỳ Đại hội của Công đoàn được tiến hành theo tinh thần đổi mới, dân chủ, đoàn kết.Tranh thủ sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng để định hướng chính trị đối với tổ chức và hoạt động Công đoàn, cùng với qua trình công nghiệp, hiện đại hóa, giai cấp công nhân tỉnh Bình Định có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, cả về cơ cấu ngành nghề, cơ cấu xã hội, trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề,  góp phần to lớn vào thắng lợi phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh  qua 30 năm. Điều đáng phấn khởi là, hoạt động của Công đoàn được thể chế bằng luật pháp, được quy định tại điều 10 của Hiến pháp (HP 1992 và 2013) và Luật Công đoàn, Bộ Luật lao động, Luật BHXH, Luật ATVSLĐ, và thông qua các văn bản pháp luật khác, Công đoàn có chức năng tham gia quản lý nhà nước và  quản lý xã hội, giám sát, kiểm tra, thanh tra  việc thực thi pháp luật của các cấp chính quyền Nhà nước có liên quan  từng bước đưa luật pháp lao động đi vào cuộc sống. Tổ chức công đoàn đã xây dựng nhiều chương trình hành động theo chức năng của mình và phối kết hợp với các cấp chính quyền và đoàn thể  chính trị - xã hội, nhằm lôi  cuốn đông đảo CNVC LĐ tham gia. Công tác tuyên truyền, giáo dục trong CNVCLĐ được chú trọng (Hình ảnh một buổi tuyên truyền pháp luật về ATGT tại C.Ty cổ phần May An Phát – Hoài Nhơn) Nắm vững quan điểm của Đảng, chủ trương của Tỉnh ủy, của Tổng Liên Đoàn và xuất phát từ thực tiễn phong trào công nhân, từ đó vận dụng đề ra chương trình công tác, xác định được mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể và biện pháp thực hiện cho tổ chức Công đoàn thích hợp với từng đối tượng. Trong qúa trình thực hiện Quyết định 612 của TLĐ về giải thể Công đoàn cấp huyện, Ban Thường vụ LĐLĐ tỉnh đã nghiên cứu xây dựng đề án trình Tỉnh uỷ  và TLĐ vẫn giữ nguyên Công đoàn cấp huyện, thành phố, giải thể các Công đoàn ngàn, chỉ để  lại hai  công đoàn ngành Y tế và Giáo dục. Trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế,  năm 2002 tiến hành thành lập mới Công đoàn Viên chức tỉnh và Công đoàn các Khu công nghiệp (sau đổi thành Công đoàn Khu kinh tế tỉnh). Đến hết năm 2016, cả tỉnh có 11 công đoàn huyện, thị thị xã, thành phố, 1.542 công đoàn cơ sở. Từ năm 1989, tái lập tỉnh Bình Định, cả tỉnh có 37.000 đoàn viên, đến 2016 có 82.726 đoàn viên công đoàn ( trong tổng số 101.335 CNVCLĐ). Đa dạng hoá các hình thức tập hợp CNVCLĐ vào tổ chức Công đoàn, nếu như trước đây công đoàn hoạt động chỉ bó hẹp trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, thì nay Công đoàn đã mở rộng phạm vi hoạt động của mình ra các thành phần kinh tế ngoài nhà nước .  Phong trào văn hóa, văn nghệ TDTT tạo sân chơi cho CNLĐ Qua thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo và hoạt động công đoàn 30 năm, Công đoàn đã coi trọng công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, vận động tập hợp đông đảo CNVCLĐ, đoàn viên, tổ chức các phong trào hành động cách mạng khơi dậy tính tích cực, chủ động sáng tạo và chăm lo giải quyết những lợi ích thiết thực của CNVCLĐ, khen thưởng người lao động trực tiếp lao động sản xuất, công tác, có nhiều người lao động được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen và Chính phủ tặng bằng khen, đã cổ vũ khuyến khích phong trào thi đua yêu nước, góp phần có hiệu quả thực hiện đường lối phát triển kinh tế- xã hội, nhiệm vụ chính trị của địa phương.          Trước những diễn biến của tình hình mới, của quá trình hội nhập quơc tế, nhiều vấn đề mới đặt ra trách nhiệm của Công đoàn nặng nề, có lúc đối mặt với những khó khăn, phức tạp đều quyêt tâm vượt qua;  thường xuyên tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm, có giải pháp tập trung đổi mới nội dung và phương thức thì hoạt động Công đoàn mới được giữ vững và đáp ứng được yêu cầu về quyền, lợi ích và nguyện vọng thiết thực  của CNVCLĐ; bằng các hoạt động phong phú, đa dạng có tác động trực tiếp nâng cao đời sống và lợi ích của người lao động, nhất là lao động khu vực kinh tế ngoài nhà nước, nơi tập trung đông lao động khu công nghiệp, khu kinh tế, thông qua tuyên truyền, tổ chức đối thoại, phản biện, phát huy dân chủ, tính tự nguyện của người lao động mới tập hợp, giáo dục, vận động CNVCLĐ tham gia các phong trào hành động cách mạng do Đảng, chính quyền và Công đoàn  phát động. Mọi hoạt động của Công đoàn  xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ, vừa  đồng hành cùng chủ doanh nghiệp, góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, nhưng đồng thời cũng  hết sức kiên quyết đấu tranh buột chủ doanh nghiệp phải thực hiện các yêu sách đúng đắn của công nhân lao động, nhiều cuộc đối thoại thành công thể hiện được bản lĩnh của Công đoàn, tạo được niềm tin, thu hút được đông đảo CNLĐ tham gia các hoạt động Công đoàn. Hội thi cán bộ nữ công tài năng, duyên dáng năm 2015 Bộ máy của tổ chức Công đoàn các cấp được kiện toàn và củng cố nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hóa trong chỉ đạo, thực hiện, sát sơ sở người lao động, thông qua việc xây dựng mạng lưới hoạt động Công đoàn  đủ mạnh, quan tâm đến lực lượng nòng cốt, điển hình, biến hoạt động của Công đoàn thành hoạt động của quần chúng, trải nghiệm qua thực tiễn công tác công đoàn đã xuất hiện  nhiều cán bộ công đoàn được rèn luyện, trưởng thành từ phong trào quần chúng, có đạo đức,  phẩm  chất, bản lĩnh  chính trị vững vàng, có năng lực  và kỹ năng hoạt động thu phục quần chúng lao động, trên cơ sở tổng kết thực tiễn hoạt động công đoàn, biết kế thừa và phát huy ưu điểm của lớp cán bộ đi trước, vượt qua khó khăn thách thức của tình hình mới, khẳng định được vai trò, chỗ đứng của mình. Tổ chức Công đoàn  kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng của CNVCLĐ, chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ tạo sự gắn kết giữa CNVCLĐ, đoàn viên với tổ chức Công đoàn. Việc vận động CNVCLĐ là một quá trình thuyết phục, động viên, lôi cuốn người lao động vào tổ chức, khơi dậy tính tích cực và khả năng tiềm tàng của họ, do đó đòi hỏi người cán bộ công đoàn vừa phải có năng lực chuyên môn giỏi, vừa phải có phong cách, tác phong mẫu mực và có phương pháp vận động, phù hợp, thân mật, gần gũi,  sâu sát quần chúng, biết tập  hợp xử lý thông tin, lắng nghế ý kiến và tổng hợp đề xuất kiến nghị kịp thời với các cấp. Để thực hiện tốt  các vấn đề nêu trên, công đoàn  quan tâm xây dựng một đội ngũ cán bộ có cơ cấu đồng bộ, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức và có năng lực, kỹ  năng hoạt động xã hội, tập hợp tổ chức quần chúng, bảo vệ lợi ích của quần chúng, giáo dục CNLĐ tích cực tham gia các hoạt động xã hội nhằm đóng góp nhiều nhất cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà. Phải đảm bảo xây dựng một đội ngũ cán bộ có sự chuyển tiếp, kế thừa giữa các thế hệ cán bộ một cách vững vàng. Cán bộ công đoàn phải có phong cách hoạt động dân chủ, biết tôn trọng , lắng nghe ý kiến của mọi người , hoà mình với mọi người, dám đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của CNVCLĐ; phải biết kiên trì, mềm mỏng, khéo léo, độc lập, chủ động , sáng tạo thích nghi với cơ chế mới. Phải quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt, xây dựng đội ngũ cán bộ Công đoàn có chuyên môn giỏi, chuyên nghiệp về công tác công đoàn; có chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ giỏi tham gia công tác Công đoàn.Cán bộ Công đoàn luôn chủ động sáng tạo trong phương pháp hoạt động, trên cơ sở tuyên truyền giáo dục sâu rộng nhằm nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của CNVCLĐ, góp phần xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh về mọi mặt. Huân chương Độc lập hạng 3 phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng cho Công đoàn Bình Định Công đoàn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thiết chế công đoàn đủ mạnh, là khâu đột phá nhằm khuyếch trương thương hiệu của tổ chức công đoàn. Đến nay, Công đoàn tỉnh có Nhà văn hóa Lao động khang trang, uy nghi giữa lòng thnh phố, có Trung tâm dạy nghề, có Công ty Cổ phần du lịch( Công đoàn  giữ cổ phần chi phối 54%), có Tạp chí công đoàn, Trung tâm tư vấn pháp luật công đoàn, có trụ sở cơ quan được chỉnh trang, xây dựng trụ sở Công đoàn huyện Phù Mỹ và Phù Cát, được cấp đất chuẩn  bị xây dựng trụ  sở Công đoàn khu kinh tế tại Phú Tài./....


   Một số điểm mới về phong trào thi đua lao động sáng tạo năm 2016

    Quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về đổi mới công tác thi đua khen thưởng, Chỉ thị 39-CT/TW ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị “về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện và bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến”; Nghị quyết Đại hội XI Công đoàn Việt Nam  và  các văn  bản chỉ đạo, hướng dẫn của Đoàn chủ tịch TLĐ; Nghị quyết Đại hội XII Công đoàn tỉnh Bình Định. Trong những năm 2011 -2016, nhất là năm 2016 vượt qua những khó khăn , thách thức mới, Công đoàn tỉnh Bình Định đã có nhiều đổi mới trong công tác chỉ đạo, điều hành, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua - khen thưởng, phong trào thi đua sáng kiến, lao động sáng tạo nhằm mục đích khơi dậy tính năng động, sáng tạo của cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên công đoàn, công nhân lao động phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. CNVCLĐ Bình Định thi đua lao động, sản xuất (Ảnh chụp tại Công ty Cổ phần Giầy Bình Định) Thực tiễn cho thấy Phong trào thi đua “Lao động sáng tạo” đã trở thành mục tiêu và động lực vượt khó, sáng tạo để tiếp tục phát triển của phong trào CNVCLĐ và họat động công đoàn, góp phần quan trọng  thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh đề ra. Trong vòng 5 năm (2011-2015) có 80 đề tài được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng và Huy hiệu lao động sáng tạo (trong đó 2011 có 25, 2012:17, 2013:11, 2014:6, 2015-2016:21 đề tài). Có 1 tác giả có 5 đề tài (Phạm văn Phú), 2 tác giả có 3 đề tài, có  2 tác giả có 2 đề tài. Có được những kết quả nêu trên nhờ triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp: Một là, Ban chấp hành, BTV Công đoàn tỉnh nghiên cứu quán triệt các văn bản của cấp trên về đổi mới công tác thi đua khen thưởng, từ đó cụ thể hóa thành các văn bản chỉ đạo điều hành của cấp mình cho phù hợp. Sau Đại hội XII Công đoàn tỉnh ban hành Quy chế đổi mới công tác thi đua khen thưởng trong hệ thống công đoàn toàn tỉnh và được chỉnh sửa, hoàn thiện trong quá trình tổ chức thực hiện đi vào cuộc sống. Đồng thời, tổ chức hướng dẫn, tập huấn, triển khai thực hiện nhất quán trong các cấp công đoàn. Trong công tác chỉ đạo và điều hành đã có sự đổi mới, chú trọng đến công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và hành động trong thi đua, nhất là nhân các ngày kỷ niệm, lễ lớn nhằm đem lại lợi ích cho nhà nước, tập thể và mỗi cá nhân, tổ chức tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm kịp thời, quan tâm đến công tác khen thưởng, nhân rộng điển hình nhằm tạo sự lan tỏa phong trào thi đua hàng năm và thi đua đặc biệt. Biểu dương, khen thưởng các tấm gương tiêu biểu trong “Tháng Công nhân” năm 2016 Hai là, phát huy vai trò của Hội đồng xét duyệt thi đua của tỉnh, các thành viên hội đồng gồm: Đại diện lãnh đạo Liên đoàn lao động tỉnh, Sở Khoa học và công nghệ, Liên hiệp các hội khoa học tỉnh, Tỉnh đoàn, Ban Thi đua khen thưởng tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh, do Liên đoàn Lao động tỉnh làm Cơ quan thường trực Hội đồng( Chủ tịch LĐLĐ tỉnh, Phó chủ tịch phụ trách thi đua và ban chính sách – pháp luật LĐLĐ tham mưu giúp việc). Hàng năm Hội đồng có kế hoạch công tác, phân công các thành viên có trách nhiệm trong việc tuyên tuyền, vận động phong trào lao động sáng tạo. Các thành viên hội  đồng thường xuyên sát cơ sở, nghe báo cáo các đề tài từ cơ sở đế có ý kiến chỉnh sửa, hướng dẫn thực  hiện hợp lý, nghe cơ sở tổ chức phản biện, đáng giá chất lượng các đề tài. Nhiều ngành còn tổ chức thành công Hội nghị báo cáo khoa học cấp ngành (Y tế, Giáo dục); ngành Giáo dục có mời các giáo viên đầu ngành, giỏi về các lĩnh vực mà đề tài lao động sáng tạo đang đề cập tới, đồng thời có nhiều giáo viên chuyên ngành ở các trường tham dự để nghe học tập, phổ biến kinh nghiệm. Ba là, nhiều đề tài lao động tác tạo được các tác giả tham gia Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn tỉnh, đã có nhiều giải pháp kỹ thuật đạt giải tại Hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh và Hội thi sáng tạo toàn quốc. Ngược lại, qua kết quả tổ chức Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn tỉnh 2 năm/ 1 lần do Liên hiệp các hội khoa học tỉnh chủ trì gồm các sở ngành tham gia, có đại diện lãnh đạo Liên đoàn Lao động tỉnh làm thành viên ban tổ chức hội thi, nhờ kinh phí hội thi phục vụ cho công tác tuyên tuyền, vận động quảng bá phong trào “Lao động sáng tạo” được sâu rộng đến các địa phương, ngành và cơ sở, thông qua đó, vai trò của tổ chức công đoàn được nâng lên. Những mô hình, điển hình được công đoàn nắm sâu sát, và mỗi khi tham gia hội đồng xét duyệt các danh hiệu thi đua cho tập thể và cá nhân có thành tích, nhất là khen cao thì phải có bằng lao động sáng tạo, sáng  kiến kinh nghiệm đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội Bốn là,  để tạo động lực, khuyến khích phong trào thi đua, Công đoàn tỉnh đã chủ động đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh thường xuyên dành một phần kinh phí để hỗ trợ khen thưởng đối với các tác giả được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng bằng và huy hiệu Lao động sáng tạo (mỗi bằng lao động sáng tạo bằng 2 lần mức lương cơ sở). Nhân hoạt động “ Tháng công nhân”, Công đoàn tỉnh tôn vinh, biểu dương các công nhân lao động tiêu biểu, các cá nhân được tặng bằng và huy hiệu lao động sáng tạo của TLĐ. Nhiều cá nhân sau khi TLĐ xét chưa đạt thì được đề nghị UBND tỉnh tặng bằng khen. Nhiều chủ doanh nghiệp trích quỹ khen thưởng, thưởng nóng cho CNVCLĐ được tăng bằng lao động sáng tạo, nhất là  các giải pháp sáng kiến, sáng tạo, làm lợi cho doanh nghiệp. Năm là, Công đoàn tham gia với chuyên môn có chính sách đào tạo, chăm lo đến sự trưởng thành về chất và lượng của CNVCLĐ nói chung và đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nói riêng, nhằm khơi dậy tiềm năng, trí tuệ, sự đam mê cống hiến của cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý trong công tác nghiên cứu, ứng dụng KHKT mới vào sản xuất và quản lý. Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, công nhân kỹ thuật có tay nghề để tạo ra nhiều sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Sáu là, phải  thường xuyên kiện toàn, củng cố Hội đồng khoa học và hội đồng  xét duyệt lao động sáng tạo các cấp, có quy chế, nội dung, kế hoạch hoạt động cụ thể thiết thực; bố trí cán bộ làm công tác thi đua có năng lực, tham mưu, đề xuất; tổ chức sơ, tổng kết  khen thưởng, nhân điển hình kịp thời. Thường xuyên tổ chức các hội nghị trao đổi kinh nghiệm, sáng kiến, hội thi tuyển chọn công nhân giỏi, xây dựng quỹ hỗ  trợ sáng kiến, sáng tạo, quỹ khuyến khích tài năng trẻ....


   Thực hiện công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

    1. Những kết quả bước đầu Thực hiện Kết luận số 80-KL/TW ngày 29/7/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa X) về “Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” (gọi tắt là Kết luận 80) và Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 07/11/2011của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “Về việc tăng cường công tác xây dựng Đảng, xây dựng các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước”.  Trong 5 năm qua, Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh đã chỉ đạo công đoàn các cấp, đặc biệt tập trung chỉ đạo liên đoàn lao động các huyện, thị xã, thành phố và Công đoàn Khu kinh tế tỉnh phối hợp với chính quyền, các ngành liên quan tập trung khảo sát nắm tình hình hoạt động các doanh nghiệp, triển khai thực hiện tốt công tác phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn. Toàn tỉnh có 69.387 lao động và 529 doanh nghiệp, trong đó số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 34 doanh nghiệp, đây là đối tượng mà công đoàn hướng tới. Đồng thời, đã có 15/15 công đoàn huyện, thị xã, thành phố, công đoàn ngành và trên 80% số công đoàn cơ sở có văn bản cụ thể hóa triển khai thực hiện phù hợp với điều kiện, đặc thù từng  đơn vị, chú trọng đối tượng lao động khu vực  kinh tế ngoài nhà nước. Xây dựng tổ chức công đoàn và chú trọng phát triển đoàn viên là cơ sở xã hội góp phần xây dựng Đảng. Do đó, công tác phát triển đoàn viên và thành lập tổ chức CĐCS trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài một lĩnh vực khó khăn, phức tạp, tỷ lệ đạt còn thấp là mối quan tâm của các cấp công đoàn trong tỉnh, nhất là Công đoàn khu kinh tế. Các cấp công đoàn trong tỉnh đã triển khai thực hiện “Chương trình phát triển đoàn viên và thành lập công đoàn cơ sở ” với nhiều giải pháp thiết thực như: đã tổ chức đăng ký, giao chỉ tiêu phấn đấu hàng năm về công tác phát triển đoàn viên và thành lập tổ chức công đoàn cơ sở; tiến hành khảo sát các doanh nghiệp và thực hiện vận động trực tiếp việc thành lập tổ chức công đoàn; ban hành và thực hiện quy định về tiêu chuẩn, bảng chấm điểm, xếp loại đối với các cấp công đoàn; kịp thời sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn chấm điểm, đánh giá công đoàn cấp trên cơ sở và công đoàn cơ sở phù hợp với từng loại hình. Kết quả, từ năm 2011 đến tháng 6/2016, toàn tỉnh có tổng số 60.248 lao động trong các doanh nghiệp đã có CĐCS, trong đó: 40.843 lao động là đoàn viên công đoàn đạt tỷ lệ 67,79%%, có 371/529 doanh nghiệp đã thành lập CĐCS đạt tỷ lệ 70,13%. Riêng các khu công nghiệp có 138 doanh nghiệp với 12.665 lao động, trong đó có 6.001 là đoàn viên công đoàn đạt tỷ lệ 47,38% và có 90 doanh nghiệp có CĐCS đạt tỷ lệ 65,2%, số doanh nghiệp có 30 lao động trở lên  ngày càng thu hẹp dần, còn chưa tới 4%. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp, LĐLĐ tỉnh đã chủ động đổi mới nội dung và phương thức hoạt động trên cơ sở căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn. Trong 5 năm qua tỷ lệ CĐCS đạt vững mạnh, vững mạnh xuất sắc bình quân hàng năm đạt trên 70%. Kết quả công tác phát triển đảng trong doanh nghiệp, công tác củng cố tổ chức, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ công đoàn, phát triển đảng viên, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong các loại hình doanh nghiệp luôn được các cấp công đoàn quan tâm thực hiện, 5 năm qua đã giới thiệu 10.588 đoàn viên ưu tú cho cấp ủy xem xét kết nạp và đã có 7.021 đoàn viên được kết nạp vào Đảng (Năm 2011: Đã giới thiệu 2.020 đoàn viên ưu tú, kết nạp 1.105 đảng viên. Năm 2012: Đã giới thiệu 2.415 đoàn viên ưu tú, kết nạp 1.838 đảng viên.Năm 2013: Đã giới thiệu 2.200 đoàn viên ưu tú, kết nạp 1.551 đảng viên.Năm 2014: Đã giới thiệu 2.152 đoàn viên ưu tú, kết nạp 1.359 đảng viên.Năm 2015: Đã giới thiệu 1.801 đoàn viên ưu tú, kết nạp 1.168 đảng viên). Trong 5 năm, đã cử 627 lượt cán bộ công đoàn thuộc các doanh nghiệp tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ công đoàn, cho nên trình độ, chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn từng. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy còn những hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới: - Công tác triển khai, tổ chức thực hiện Kết luận 80 chưa được thường xuyên, liên tục, thiếu kiểm tra đôn đốc, đánh giá, nhân điển hình, đề ra giải pháp thực hiện hiệu qủa hơn. - Vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể cùng cấp chưa thật sự phát huy, phối hợp chưa chặt chẽ. - Tỷ lệ phát triển tổ chức công đoàn, phát triển đoàn viên, công nhân được kết nạp đứng vào hàng ngũ của Đảng còn thấp so với số lượng doanh nghiệp, CNLĐ. - Chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn ngoài nhà nước nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. 2. Bài học  kinh nghiệm - Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp chỉ đạo: Nơi nào cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp quan tâm, coi trọng công tác củng cố nâng cao chất lượng hoạt động CĐCS và xây dựng tổ chức công đoàn cơ sở vững mạnh, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, thì nơi đó vai trò hoạt động công đoàn cơ sở được phát huy. - Về công tác tổ chức và cán bộ: Thường xuyên củng cố, kiện toàn, bố trí đội ngũ cán bộ CĐCS phù hợp, tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả hoạt động công đoàn; tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ công đoàn và chất lượng hoạt động của tổ đối thoại, tổ thương lượng, để thực hiện tốt chức năng đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. - Về nội dung và phương thức hoạt động: Thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động CĐCS thiết thực, phù hợp, sát hợp với tình hình thực tiễn của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Nâng cao vai trò, vị trí của tổ chức công đoàn trong việc thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở; thường xuyên tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước và luật công đoàn đến CNVCLĐ, người đứng đầu các cơ quan đơn vị, nhất là người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp, nhằm thay đổi nhận thức và hành vi, thể hiện được vai trò quan trọng trong việc tăng cường hỗ trợ các biện pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động CĐCS - Về công tác xây dựng CĐCS vững mạnh: Thường xuyên đổi mới nội dung và phương thức hoạt động công đoàn; kịp thời ban hành và bổ sung sửa đổi quy định về bảng điểm đánh giá xếp loại CĐCS thật cụ thể, sát với điều kiện, đặc thù các loại hình CĐCS, tiến hành kiểm tra, đánh giá hoạt động CĐCS hằng năm qua đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động CĐCS, xây dựng CĐCS vững mạnh.  3. Giải pháp thời gian tới Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục, tạo sự thống nhất về nhận thức trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên, người lao động và chủ doanh nghiệp về nhiệm vụ xây dựng, phát triển tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp theo nội dung Chỉ thị 07-CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII và Kết luận 80 trong tình hình mới nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp ủy đảng, đảng viên và chủ doanh nghiệp về sự cần thiết khách quan, tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng và phát triển tổ chức Đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước. Hài là,  tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức thực hiện của các cấp ủy đảng, công đoàn cấp trên, nhất là công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở trong việc thực hiện Kết luận 80.  Bà là, tiếp tục điều tra, khảo sát tình hình tất cả các doanh nghiệp trên địa bàn chưa có tổ chức công đoàn có số lượng lao động từ 10 người trở lên để nắm tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình lao động và sử dụng lao động của doanh nghiệp…để có phương pháp tiếp cận, thuyết phục, vận động đẩy mạnh phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bốn là, tập trung củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của CĐCS, xây dựng CĐCS vững mạnh trong doanh nghiệp. Năm là, đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp (giới thiệu đoàn viên công đoàn ưu tú để Đảng xem xét, bồi dưỡng, kết nạp). Sáu là, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước....



   Một số kết quả hoạt động kiểm tra của các cấp công đoàn trong 6 tháng đầu năm 2013

    Trong những tháng đầu năm 2013 Ban Chấp hành, Ban thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh đã tập trung chỉ đạo hoạt động của ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp trong tỉnh đạt được các kết quả sau. Thực hiện kiểm tra việc chấp hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam. Năm 2013 là năm đầu tiên các cấp công đoàn trong tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội XII Công đoàn Bình Định và nghị quyết đại hội cấp mình. Hoạt động của ủy ban kiểm tra công đoàn tỉnh chủ yếu tập trung vào kiểm tra cấp cơ sở thực hiện triển khai Nghị quyết Công đoàn và việc phổ biến, triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các quy định của Tổng Liên đoàn. Trong 6 tháng đầu năm 2013 ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã thực hiện được 128 cuộc kiểm tra, trong đó có 58 cuộc kiểm tra ở cùng cấp và 70 cuộc kiểm tra cấp dưới. Qua kiểm tra cho thấy; về cơ bản ban chấp hành, ban thường vụ công đoàn các cấp chấp hành tốt các quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam; đã phát huy vai trò, chức năng của công đoàn, hoạt động có bước chuyển biến mới, hướng về cơ sở, vì quyền lợi của đoàn viên và người lao động; đại diện ký kết thỏa ước lao động tập thể; tham gia tích cực với cơ quan nhà nước và người sử dụng lao động để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động; tổ chức tốt công tác tuyên truyền giáo dục, thường xuyên đưa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các chủ trương của Tổng Liên đoàn đến với công nhân, viên chức và người lao động. Chú trọng công tác bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ công đoàn ở cơ sở nhằm nâng cao chất lượng hoạt động; đẩy mạnh các hoạt động xã hội từ thiện để giúp đỡ đoàn viên, công nhân lao động gặp khó khăn, hoạn nạn. Thực hiện kiểm tra công đoàn cùng cấp và cấp dưới khi tổ chức hoặc đoàn viên có dấu hiệu vi phạm Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của công đoàn. Trong 6 tháng đầu năm, ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã thực hiện 28 cuộc kiểm tra đối với tổ chức, cán bộ, đoàn viên ở cùng cấp và 20 cuộc đối với tổ chức, cán bộ, đoàn viên ở cấp dưới. Những vi phạm phổ biến tập trung ở việc thực hiện chế độ sinh hoạt, hội họp công đoàn; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo chưa kịp thời, đầy đủ; sổ sách, tài liệu quản lý chưa khoa học. Ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã kịp thời chấn chỉnh, kiến nghị biện pháp khắc phục, sửa chữa trong việc thực hiện Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của công đoàn. Thực hiện Kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản và hoạt động kinh tế của công đoàn. Ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã tiến hành được 170 cuộc, trong đó đồng cấp 116 cuộc và 54 cuộc kiểm tra cấp dưới. Ủy ban Kiểm tra Liên đoàn Lao động tỉnh thực hiện kiểm tra 14 cuộc đối với công đoàn cấp trên cơ sở cho thấy công đoàn các cấp đã tập trung kinh phí tổ chức các phong trào có hiệu quả; chứng từ, sổ sách kế toán đầy đủ, thực hiện các khoản chi đúng quy định của Nhà nước và Tổng Liên đoàn. Công tác quản lý tài chính, tài sản chặt chẽ, sử dụng ngân sách công đoàn ngày càng hiệu quả. Ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tài chính, tài sản công đoàn; lựa chọn nội dung, phương pháp kiểm tra phù hợp với điều kiện thực tế của từng đơn vị. Giải quyết và tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo. Ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã thực hiện tốt công tác tiếp đoàn viên, cán bộ, công chức, viên chức, lao động; tiếp nhận đơn thư, giải quyết và tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo theo đúng trình tự quy định. Công tác tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cán bộ kiểm tra. Ủy ban Kiểm tra Liên đoàn Lao động tỉnh đã chỉ đạo ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp tổ chức tập huấn, bồi dưỡng về nghiệp vụ kiểm tra cho cán bộ làm công tác kiểm tra của nhiệm kỳ mới và biên soạn bài giảng công tác kiểm tra giúp cho công đoàn các cấp có tài liệu phục vụ tập huấn ở cấp mình. Trong 6 tháng đầu năm, công đoàn các cấp đã tập huấn nghiệp vụ cho 563 cán bộ ủy ban kiểm tra. Thông qua công tác kiểm tra, ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã có nhiều kiến nghị đề xuất với ban chấp hành, ban thường vụ công đoàn cùng cấp và cấp trên kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những thiếu sót tồn tại trong công tác tổ chức, triển khai các hoạt động, quản lý, điều hành và thực hiện chức năng nhiệm vụ công đoàn ở các cấp. Đồng thời ban chấp hành công đoàn các cấp phải tăng cường quan tâm hơn nữa trong công tác chỉ đạo hoạt động ủy ban kiểm tra cùng cấp và cấp dưới trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch công tác tháng, quý và cả năm để chủ động trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ; tăng cường tổ chức kiểm tra đồng cấp và cấp dưới về chấp hành Điều lệ công đoàn; kiểm tra về quản lý tài chính – tài sản và hoạt động kinh tế công đoàn; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác kiểm tra; thực hiện công tác thông tin, báo cáo. Góp phần nâng cao chất lượng hoạt động và xây dựng tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh, nhằm thực hiện có hiệu quả nghị quyết đại hội công đoàn các cấp và Nghị quyết Đại hội XII Công đoàn tỉnh, nhiệm kỳ 2013 – 2018.                                                                                  Nguyễn Mạnh Hùng                                                                              Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh ...


   Phụ nữ Việt Nam - 86 năm, kết nối truyền thống và sự trưởng thành

    1. Truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã xây dựng nên truyền thống “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào mùa xuân năm 40 sau Công nguyên đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia, đánh đuổi quân Đông Hán, giành quyền tự chủ cho đất  nước, mở đầu  thời kỳ đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm của dân tộc. Bà Triệu Thị Trinh lãnh đạo khởi nghĩa chống ách thống trị của nhà Ngô năm 248 với câu nói nổi tiếng  ”Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm  tì thiếp cho người”. Hình ảnh kiên cường, bất khuất của Nữ tướng Bùi Thị Xuân trong phong trào nông dân Tây Sơn thế kỷ 17 và tiếp theo là bà Ba Cai Vàng, bà Ba Đề Thám, bà Đinh phu nhân, cô Bắc, cô Giang trong phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX tiếp tục khẳng định truyền thống yêu nước, sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập dân tộc của phụ nữ Việt Nam. Lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam đã khẳng định phụ nữ Việt Nam là lực lượng quan trọng trong lao động sản xuất với những phẩm chất cần cù, đảm đang, thông minh, sáng tạo. Hình ảnh thường ngày về người phụ nữ Việt Nam cần cù lao động được ghi lại đậm nét trong lịch sử nước nhà: “sớm ra ruộng lúa, tối về nương dâu”, “vai vác cái cày, tay đuổi con trâu, cái cuốc cho lẫn cái gầu, con dao rựa phát đèo đầu gánh phân”…Nhiều ngành nghề sản xuất truyền thống được lưu truyền bằng những truyền thuyết, hình ảnh gắn liền với người phụ nữ như trồng dâu dệt lụa, làm gốm, trồng lúa….Trong từng giai đoạn lịch sử, đặc biệt vào những giai đoạn cam go của cách mạng giải phóng dân tộc, phụ nữ không chỉ lo đảm đương công việc sản xuất, tích trữ lương thực cho gia đình mà còn hăng hái sản xuất, vận chuyển lương thực, nhu yếu phẩm, đạn dược ra tiền tuyến. Không chỉ là lực lượng quan trọng trong lao động sản xuất, phụ nữ còn có khả năng tham gia quản lý xã hội và tổ chức hậu cần, xây dựng hậu phương trong các cuộc kháng chiến như: Thái hậu Dương Vân Nga (thế kỷ X) đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích gia đình, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chuyển giao quyền lực từ nhà Đinh sang nhà Tiền Lê, góp phần bảo vệ nền độc lập dân tộc, chiến thắng quân Tống xâm lược; Nguyên phi Ỷ Lan (thế kỷ XI) - 2 lần làm Nhiếp chính  (thay vua điều hành triều đình), giữ hậu phương vững  chắc  để chồng (Vua Lý Thánh  Tông) yên tâm đánh giặc và giúp con (Vua Lý Nhân Tông) sử dụng người tài, quản lý đất nước, giữ vững nền độc lập dân tộc; Bà Lý Thị Châu (Bà chúa Kho) vào thế   kỷ XIII đã chỉ huy quân sĩ bảo vệ kho lương thực, nhu yếu phẩm, lo việc hậu cần cho binh sỹ, để chồng yên tâm ra trận mạc…Trong suốt hai cuộc kháng chiến cho đến  khi hòa bình, đã xuất hiện nhiều phong trào thi đua sản xuất như “Sóng Duyên hải”, “Gió Đại Phong”, “Cờ Ba Nhất”, những “Cánh đồng năm tấn”, “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình”, “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”... được phát động minh chứng cho truyền thống cần cù, tinh thần hăng say lao động, thông minh, sáng tạo của phụ nữ trên mặt trận sản  xuất. Phụ nữ Việt Nam vừa là người sáng tạo, vừa là người gìn giữ, bảo vệ truyền thống văn hóa dân tộc và lưu truyền các giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác như: Dân ca Nam bộ, Quan họ Bắc Ninh, chèo vùng đồng bằng Bắc bộ, dân ca Nghệ - Tĩnh, tuồng và dân ca Trung bộ, các làn điệu dân ca, vũ hội của các dân tộc miền núi và trung du. Lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam đã ghi nhận những phụ nữ tài cao, học rộng, sáng tác văn học nghệ thuật, tham gia trong lĩnh vực giáo dục, văn hóa như bà Nguyễn Thị Lộ, Bà Huyện Thanh Quan, nữ sĩ Hồ Xuân Hương, thi sĩ Đoàn Thị Điểm… Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định : “Non song gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ…”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nữ đại biểu tại Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc  lần thứ III, tháng 9-1960 - Ảnh: Tư liệu 2. Phong trào phụ nữ từ khi thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (từ 20/10/21930 đến nay) - Phong trào phụ nữ từ khi thành lập Đảng đến Cách mạng tháng Tám (1930 -1945) Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức phụ nữ lần lượt ra đời nhằm quy tụ sức mạnh đoàn kết của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam:  Hội Phụ nữ Phản đế Đông Dương (1930), Hội Phụ nữ Dân chủ (1936), Đoàn Phụ nữ Cứu quốc (1941-1945). Trong cao trào cách mạng 1930- 1931, phụ nữ là lực lượng đông đảo trong các cuộc mít tinh, biểu tình, tuần hành…đấu tranh đòi giảm sưu thuế và đòi quyềtự do dân chủ. Tại nhiều địa phương, phong trào phụ nữ phát triển mạnh mẽ cùng với phong trào cách mạng sôi nổi, phụ nữ đã tập hợp thành tổ chức với các tên gọi như: “Hội Phụ nữ giải phóng”, “Phụ nữ Hiệp Hội”. Trong cao trào cách mạng, nhiều phụ nữ đã trưởng thành như chị Nguyễn Thị Thập tham gia Xứ ủy Nam kỳ, chị Nguyễn Thị Hiếu – tỉnh ủy viên Thái  Bình… Ở thời kỳ vận động dân chủ 1936 - 1939, phụ nữ tham gia đấu tranh công khai,tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin và chủ trương, đường lối đấu tranh cách mạng và công tác vận động phụ nữ của Đảng. Quần chúng phụ nữ được tập hợp trong những tổ chức phù hợpvới ngành nghề và điều kiện sinh hoạt, trong đó “Hội Phụ nữ dân chủ” và “Hội Phụ nữ giải phóng” làm nòng cốt vận động, tập hợp các tầng lớp phụ nữ đấu tranh đòi các quyền tự do, dân chủ và hòa bình. Trong thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền (1939 - 1945), “Hội Phụ nữ phản đế”, “Đoàn Phụ nữ cứu quốc”động viên phụ nữ gia nhập Mặt  trận Việt Minh, tham gia các đội vũ trang tuyên truyền.Qua đấu tranh cách mạng, lực lượng phụ nữ đã từng bước trưởng thành, góp phần quan trọng trong Tổng Khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945. Ngày 20/10/1946, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chính thức được thành lập trên cơ sở các tổ chức phụ nữ tiền thân và sau đó gia nhập Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Quốc tế nhằm tranh thủ sự ủng hộ của phụ nữ quốc tế cho cuộc kháng chiến của dân tộc. Trong giai đoạn này 2 tổ chức phụ nữ cùng song song tồn tại và hoạt động đến năm 1950, trước tình hình mới, dưới sự chỉ đạo của Đảng, Đoàn Phụ nữ Cứu quốc và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam hợp nhất thành một tổ chức, tạo nên sức mạnh đoàn kết các tầng lớp phụ nữ Việt Nam. - Phong trào phụ nữ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946-1954) Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng vừa được thành lập đã phải đối phó với tình thế khó khăn, “thù trong, giặc ngoài”.Các tầng lớp phụ nữ Việt Nam đã tích cực tuyên truyền và thực hiện cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; hăng hái hưởng ứng phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, tích cực đóng góp trong “Tuần lễ vàng” và tham gia phong trào “Bình dân học vụ” xoá nạn mù chữ; gia nhập lực lượng dân quân tự vệ, tích cực tham gia đấu tranh với nhiều hình thức làm thất bại âm mưu bạo loạn, giữ vững thành quả cách mạng. Hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 19/12/1946, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã động viên các tầng lớp phụ nữ tích cực tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ở vùng hậu phương, phụ nữ là lực lượng chủ yếu  trong lao động sản xuất, bảo đảm đời sống nhân dân và đáp ứng nhu cầu “Hậu cần tại chỗ” phục vụ quân đội, góp phần chi viện tiền tuyến đánh thắng giặc Pháp. Trong vùng địch tạm chiếm, phụ nữ là lực lượng đấu tranh quan trọng, thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, vận động nhân dân tin tưởng vào đường lối kháng chiến của Đảng, tạo mọi điều kiện ủng hộ cuộc kháng chiến. Sự tham gia đông đảo của các tầng lớp phụ nữ trong sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu đã góp phần to lớn vào thắng lợi Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ngày 7/5/1954. - Phong trào phụ nữ trong cách mạng dân tộc, dân chủ chống đế quốc Mỹ và tay sai ở miền Nam (1954-1975) Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã kết thúc cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạm thời dưới ách thống trị của đế quốc và tay sai. Thời kỳ này, Đảng đã lãnh đạo cả nước tiến hành đồng thời 2 nhiệm vụ cách mạng chiến lược: Miền Bắc tiến hành cách mạng XHCN, miền Nam tiếp tục cách mạng giải phóng dân tộc dân chủ nhân dân để giải phóng miền Nam thống nhất đất  nước. Từ năm 1954 đến năm 1975, phong trào phụ nữ đã xác định những nội dung hoạt động phù hợp với đặc điểm tình hình cách  mạng của hai miền Nam, Bắc. Tại miền Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam đã phát động hàng ngàn cuộc đấu tranh chính trị lớn nhỏ, huy động nhiều tầng lớp phụ nữ tham gia biểu tình phản đối tội ác của Mỹ - Ngụy. Năm 1960, “Đội quân tóc dài” ra đời trong phong trào Đồng khởi ở Bến Tre và đã phát triển rộng khắp trong toàn miền Nam, thu hút hàng triệu chị em phụ nữ tham gia vào cả “ba mũi giáp công” (đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận), góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Phong  trào phụ nữ Miền Nam đã vinh dự được TW Đảng tặng 8 chữ vàng: "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” . - Phong trào phụ nữ trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ, cứu nước ở miền Bắc  (1954-1975) Năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bắt tay vào cách mạng XHCN, xây dựng CNXH, làm nhiệm vụ chi viện của “hậu phương lớn”cho “tiền tuyến lớn”. Năm 1961, Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ II đã tổng kết những hoạt động chủ yếu của phong trào phụ nữ và thông qua Nghị quyết về những nhiệm vụ lớn của phong trào phụ nữ trong giai đoạn mới của cách  mạng. Từ năm 1961 đến 1965, phụ nữ hăng hái hưởng ứng “Phong trào thi đua 5 tốt” do Trung ương Hội LHPN Việt Nam phát động với các nội dung: 1. Đoàn kết sản xuất tiết kiệm tốt, 2. Chấp hành chính sách tốt, 3. Tham gia quản lý tốt, 4. Học tập chính trị, văn hóa, kỹ thuật tốt, 5. Xây dựng gia đình nuôi dạy con tốt. Tháng 3/1965, Trung ương Hội LHPN Việt Nam phát động phong trào “Ba đảm đang” với nội dung: Đảm đang sản xuất thay chồng con đi chiến đấu, đảm  đang gia đình để chồng con yên tâm công tác, đảm đang sẵn sàng chiến đấu khi cần thiết. Phong trào nhằm động viên phụ nữ tích cực sản xuất và công tác, đảm đang trong gia đình để chồng con lên đường chiến đấu. Phụ nữ tại các địa phương đã thực hiện “Tay búa, tay súng”, “Tay cày, tay súng” trong sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu quyết tâm hoàn thành xuất sắc kế hoạch nhà nước. Phụ nữ tham gia ngày càng nhiều trong công tác quản lý, lãnh đạo (từ tổ, đội sản xuất, hợp tác xã, nhà máy và hệ thống quản lý hành chính)chị em không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, nâng cao năng lực để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách  mạng. Phong trào “Ba đảm đang” được thực hiện từ năm 1965 đến 1975 đã động viên kịp thời các tầng lớp phụ nữ hăng hái lao động sản xuất và công tác, chăm lo gia đình, sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu, thiết thực góp phần vào thắng lợi của kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1974, Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ IV đã đề ra những nhiệm vụ của phong trào phụ nữ cả nước trong nhiệm kỳ, với nội dung chủ yếu: Xây dựng người phụ nữ XHCN, làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn đối với miền Nam và cải tiến chỉ đạo, chuyển mạnh phương thức hoạt động của Hội. - Phong trào phụ nữ trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (1975-1986) Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước độc lập thống nhất, thực hiện xây dựng CNXH. Cùng với nhân dân, phụ nữ cả nước tích cực tham gia thực hiện những nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước. Trước yêu cầu, nhiệm vụ mới của Cách mạng Việt Nam, năm 1976, Hội  nghị hợp nhất tổ chức phụ nữ 2 miền Nam - Bắc đã quyết định thống nhất 2 tổ chức phụ nữ ở 2 miền thành Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và lấy ngày 20/10/1930 là Ngày Thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt  Nam. Từ năm 1978, Trung ương Hội LHPN Việt Nam đã phát động phong trào thi đua “Người Phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, thực hiện “Giỏi việc nước, đảm việc nhà, phấn đấu thực hiện nam nữ bình đẳng”. Chị em thi đua lao động sản xuất, công tác, thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, tích cực chăm lo quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. Phong trào được duy trì khoảng 10 năm, đã góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị và quyền dân chủ, bình đẳng, chăm lo quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. - Phong trào Phụ nữ trong công cuộc đổi mới đất nước  (1986-2012): Từ năm 1989, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã phát động phụ nữ cả nước hưởng ứng hai cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình” và “Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học”. Chị em đã phát huy truyền thống đoàn kết, tương trợ trong lao động sản xuất, tổ chức tốt cuộc sống gia đình, phấn đấu nâng cao trình độ về mọi mặt, tích cực tham gia trong các lĩnh vực xã hội, thực hiện nhiệm vụ xây dựng và đổi mới đất nước. Năm 1992, Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ VII đã cụ thể hóa các nội dung hoạt động thành “5 chương trình trọng tâm”. Qua 5 năm thực hiện (1992-1997), 5 chương trình trọng tâm được các tầng lớp phụ nữ trong cả nước tích cực hưởng ứng, được Đảng, chính quyền các cấp đánh giá là thiết thực, hiệu quả, góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã  hội. Năm 1997, Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ VIII (1997-2002) khẳng định tiếp tục thực hiện 5 chương trình trọng tâm. Đại hội phát động phụ nữ cả nước thực hiện hai phong trào thi đua yêu nước: “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất  nước”. Năm 2002, Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ IX đã phát động phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và đề ra mục tiêu, nhiệm vụ với 6 chương trình hoạt động trọng tâm của phong trào phụ nữ giai đoạn 2002 - 2007. Năm 2007, Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ X tiếp tục phát động các tầng lớp phụ nữ hưởng ứng phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” gắn kết với Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đại hội đã đề ra mục tiêu, 6 nhiệm vụ, giải pháp của phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nhiệm kỳ 2007-2012. Năm 2012, Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XI đã phát động các tầng lớp phụ nữ tiếp tục thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” gắn với đẩy mạnh thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đại hội đã xác định mục tiêu, với 3 khâu đột phá và 6 nhiệm vụ trọng tâm của phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, triển khai tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, phụ nữ rèn luyện phẩm chất đạo đức của phụ nữ Việt Nam thời kỳ CNH- HĐH đất nước: Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm  đang. 3. Từ khi thành lập đến nay, Hội LHPN Việt Nam đã trải qua 11 kỳ đại hội Đại hội Phụ nữ Việt Nam lần thứ nhất được tổ chức vào năm 1950 (nhiệm kỳ 1950-1956) tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Từ đó đến nay, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã tổ chức thành công 11 kỳ Đại hội. Các Chủ tịch Hội  Liên  hiệp Phụ nữ Việt Nam qua các nhiệm kỳ là: + Khoá I (Nhiệm kỳ 1950-1956): Bà Lê Thị  Xuyến + Khoá II (Nhiệm kỳ 1956 -1961): Bà Nguyễn Thị Thập + Khoá III (Nhiệm kỳ 1961- 1974): Bà Nguyễn Thị Thập + Khoá IV (Nhiệm kỳ 1974 - 1982): Bà Hà Thị Quế + Khoá V (Nhiệm kỳ 1982 - 1987): Bà Nguyễn Thị Định + Khoá VI (Nhiệm kỳ 1987 - 1992): Bà Nguyễn Thị Định + Khoá VII (Nhiệm kỳ 1992 - 1997): Bà Trương Mỹ Hoa + Khoá VIII (Nhiệm kỳ 1997 - 2002): Bà Trương Mỹ Hoa (năm 1997) và Bà  Hà Thị Khiết (1998 - 2002) + Khoá IX (Nhiệm kỳ 2002 - 2007): Bà Hà Thị Khiết + Khoá X (Nhiệm kỳ 2007 - 2012): Bà Nguyễn Thị Thanh Hòa + Khoá XI (Nhiệm kỳ 2012 - 2017): Bà Nguyễn Thị Thanh Hòa (Theo Tài liệu Giáo dục Chính trị, Tư tưởng của TW Hội LHPN VN)  ...
  • VĂN BẢN MỚI

  • Nhà nước

  • Tổng LĐLĐ

  • LĐLĐ tỉnh



   Quyết định ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 09 tháng 01 năm 2016 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI

Văn bản số: 1934/QĐ-TTg | Ban hành ngày: 2016-10-10
    Quyết định ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 09 tháng 01 năm 2016 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI
  • TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM

  • Công tác công đoàn

  • Lĩnh vực khác



   Hướng dẫn hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động

    Ngày 15/5/2016, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành Nghị định số 44/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật an toàn, vệ sinh lao động về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và quan trắc môi trường lao động. Theo Nghị định này, công tác huấn luyện an toàn lao động có nhiều điểm mới so với Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH như sau: 1. Về đối tượng được huấn luyện an toàn lao động Trong Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH có 4 nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động. Tuy nhiên, trong Nghị định số 44 có tới 6 nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động. 2 nhóm đối tượng mới bao gồm nhóm 5: người làm công tác y tế và nhóm 6: an toàn, vệ sinh viên theo điều 74 Luật an toàn, vệ sinh lao động.  Nhóm 1: Người quản lý phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: a) Người đứng đầu đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh và phòng, ban, chi nhánh trực thuộc; phụ trách bộ phận sản xuất, kinh doanh, kỹ thuật; quản đốc phân xưởng hoặc tương đương; b) Cấp phó của người đứng đầu theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này được giao nhiệm vụ phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động.  Nhóm 2: Người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: a) Chuyên trách, bán chuyên trách về an toàn, vệ sinh lao động của cơ sở; b) Người trực tiếp giám sát về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Nhóm 3: Người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động là người làm công việc thuộc Danh mục công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành. Nhóm 4: Người lao động không thuộc các nhóm theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều này, bao gồm cả người học nghề, tập nghề, thử việc để làm việc cho người sử dụng lao động. Nhóm 5: Người làm công tác y tế.  Nhóm 6: An toàn, vệ sinh viên theo quy định tại Điều 74 Luật an toàn, vệ sinh lao động. 2. Về nội dung huấn luyện Trong Nghị định số 44, nội dung huấn luyện an toàn lao động cho các nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động được quy định chặt chẽ hơn, chi tiết hơn so với Thông tư số 27/2013/TT-BLĐTBXH.  Huấn luyện nhóm 1 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh. Huấn luyện nhóm 2 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; xây dựng nội quy, quy chế, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; xây dựng, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch an toàn, vệ sinh lao động hằng năm; phân tích, đánh giá rủi ro và xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp; xây dựng hệ thống quản lý về an toàn, vệ sinh lao động; nghiệp vụ công tác tự kiểm tra; công tác điều tra tai nạn lao động; những yêu cầu của công tác kiểm định, huấn luyện và quan trắc môi trường lao động; quản lý máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; hoạt động thông tin, tuyên truyền, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động; sơ cấp cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp cho người lao động; công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật, thống kê, báo cáo công tác an toàn, vệ sinh lao động; c) Nội dung huấn luyện chuyên ngành: Kiến thức tổng hợp về máy, thiết bị, vật tư, chất phát sinh yếu tố nguy hiểm, có hại; quy trình làm việc an toàn với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động.  Huấn luyện nhóm 3 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động: Chính sách, chế độ về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và phương pháp cải thiện điều kiện lao động; chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; nội quy an toàn, vệ sinh lao động, biển báo, biển chỉ dẫn an toàn, vệ sinh lao động và sử dụng thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân; nghiệp vụ, kỹ năng sơ cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp; c) Nội dung huấn luyện chuyên ngành: Kiến thức tổng hợp về máy, thiết bị, vật tư, chất phát sinh các yếu tố nguy hiểm, có hại và phương pháp phân tích, đánh giá, quản lý rủi ro liên quan đến công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động mà người được huấn luyện đang làm; quy trình làm việc an toàn, vệ sinh lao động; kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động liên quan đến công việc của người lao động.  Huấn luyện nhóm 4 a) Kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động: Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động, người lao động; chính sách, chế độ về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và phương pháp cải thiện điều kiện lao động; chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; nội quy an toàn, vệ sinh lao động, biển báo, biển chỉ dẫn an toàn, vệ sinh lao động và sử dụng các thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân, nghiệp vụ, kỹ năng sơ cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp. b) Huấn luyện trực tiếp tại nơi làm việc: Quy trình làm việc và yêu cầu cụ thể về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.  Huấn luyện nhóm 5 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; c) Huấn luyện cấp Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động: Yếu tố có hại tại nơi làm việc; tổ chức quan trắc môi trường lao động để đánh giá yếu tố có hại; lập hồ sơ vệ sinh lao động tại nơi làm việc; các bệnh nghề nghiệp thường gặp và biện pháp phòng chống; cách tổ chức khám bệnh nghề nghiệp, khám bố trí việc làm, chuẩn bị hồ sơ giám định bệnh nghề nghiệp; tổ chức và kỹ năng sơ cứu, cấp cứu; phòng chống dịch bệnh tại nơi làm việc; an toàn thực phẩm; quy trình lấy và lưu mẫu thực phẩm; tổ chức thực hiện bồi dưỡng hiện vật và dinh dưỡng cho người lao động; nâng cao sức khỏe nơi làm việc, phòng chống bệnh không lây nhiễm tại nơi làm việc; kiến thức, kỹ năng, phương pháp xây dựng kế hoạch, phương án, trang bị phương tiện và điều kiện cần thiết để thực hiện công tác vệ sinh lao động; phương pháp truyền thông giáo dục về vệ sinh lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp; lập và quản lý thông tin về vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp tại nơi làm việc; lập và quản lý hồ sơ sức khỏe người lao động, hồ sơ sức khỏe của người bị bệnh nghề nghiệp. Công tác phối hợp với người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động hoặc bộ phận quản lý công tác an toàn, vệ sinh lao động để thực hiện nhiệm vụ liên quan theo quy định tại Điều 72 Luật an toàn, vệ sinh lao động. Huấn luyện nhóm 6 Người lao động tham gia mạng lưới an toàn, vệ sinh viên ngoài nội dung huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động theo quy định còn được huấn luyện bổ sung về kỹ năng và phương pháp hoạt động của an toàn, vệ sinh viên. 3. Về thời gian huấn luyện an toàn lao động Giống thông tư số 27, thời gian huấn luyện an toàn lao động theo quy định cho nhóm 1 và 4 vẫn giữ nguyên, tối thiểu 16 tiếng; nhóm 2 tối thiểu 48 tiếng. Tuy nhiên với nhóm 3, thời gian huấn luyện tối thiểu đã giảm từ 30 tiếng xuống 24 tiếng. Đặc biệt, nghị định số 44 có quy định thời gian huấn luyện tối thiểu với nhóm 5 và 6 lần lượt là 56 tiếng và 4 tiếng. 4. Về giấy chứng nhận, chứng chỉ an toàn lao động Theo quy định trong Thông tư số 27: – Nhóm 1 sẽ được cấp Chứng nhận huấn luyện (thời hạn 2 năm) – Nhóm 2, 3 là Chứng chỉ huấn luyện (thời hạn 5 năm) – Nhóm 4 sẽ được ghi kết quả huấn luyện vào sổ theo dõi công tác huấn luyện tại cơ sở. Tuy nhiên với Nghị định số 44, ngoài nhóm 4 được giữ nguyên, các nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động đều có thay đổi: – Sau khi hoàn thành khóa học và thông qua kiểm tra, sát hạch, nhóm 1, 2, 5, 6 đều được nhận Chứng nhận huấn luyện an toàn lao động với thời hạn 2 năm. – Với nhóm 3 những người lao động thường xuyên làm việc trong môi trường có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động sẽ được cấp thẻ an toàn lao động có thời hạn 2 năm. – Với nhóm 5, ngoài Chứng nhận huấn luyện an toàn lao động còn được cấp Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động(thời hạn 5 năm). Nội dung hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động được quy định trong Chương 3 của Nghị định. Chương này gồm 16 điều (điều 17 đến điều 32) chia làm 5 mục. Mục 1. Đối tương, nội dung và yêu cầu chung trong hoạt động huấn luyện.Gồm 5 điều (từ điều 17 đến điều 21) quy định đối tượng tham dự khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, nội dung huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, thời gian huấn luyện, chương trình khung và chương trình, tài liệu huấn luyện, huấn luyện, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng về an toàn, vệ sinh lao động và huấn luyện định kỳ. Mục 2. Người huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.Gồm 2 điều (điều 22, điều 23) quy định tiêu chuẩn người huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, xác định thời gian đã làm việc hoặc thời gian đã làm công việc huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động. Mục 3. Giấy chứng nhận huấn luyện, thẻ an toàn và chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động.Gồm 2 điều (điều 24, điều 25) quy định quản lý việc cấp Giấy chứng nhận huấn luyện, Thẻ an toàn, và Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động, thời hạn cấp, cấp mới Giấy chứng nhận huấn luyện, Thẻ an toàn, Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động. Mục 4. Tổ chức huấn luyện, doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.Gồm 6 điều (điều 26 đến điều 31) quy định phân loại tổ chức huấn luyện và điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động, thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động của Tổ chức huấn luyện, hồ sơ, thủ tục cấp mới, cấp lại, gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động của Tổ chức huấn luyện, công nhận cơ sở y tế đủ điều kiện huấn luyện cấp chứng chỉ chứng nhận về y tế lao động, doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, mẫu, thời hạn cấp mới, cấp lại, gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động. Mục 5. Huấn luyện cho người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động, quy định chi tiết hỗ trợ huấn luyện người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động. Theo đó đối tượng được ưu tiên hỗ trợ chi phí huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động là người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng và thân nhân chủ yếu của người có công với cách mạng làm việc không theo hợp đồng lao động khi làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động. Về nguyên tắc hỗ trợ được quy định: - Hỗ trợ chi phí huấn luyện 01 lần đối với 01 công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; - Tham gia đầy đủ chương trình huấn luyện và sát hạch đạt yêu cầu, được cấp Thẻ an toàn; - Hỗ trợ trực tiếp cho người lao động hoặc thông qua Tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động. Cũng theo quy định này mức hỗ trợ theo chi phí thực tế của khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động nhưng không quá 50% mức lương cơ sở/người/khóa huấn luyện theo quy định của Chính phủ tại thời điểm huấn luyện. Nguồn kinh phí hỗ trợ được bố trí trong dự toán chi thường xuyên của cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành. ...


   Hướng dẫn hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động

    Ngày 15/5/2016, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành Nghị định số 44/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật an toàn, vệ sinh lao động về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và quan trắc môi trường lao động. Theo Nghị định này, công tác huấn luyện an toàn lao động có nhiều điểm mới so với Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH như sau: 1. Về đối tượng được huấn luyện an toàn lao động Trong Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH có 4 nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động. Tuy nhiên, trong Nghị định số 44 có tới 6 nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động. 2 nhóm đối tượng mới bao gồm nhóm 5: người làm công tác y tế và nhóm 6: an toàn, vệ sinh viên theo điều 74 Luật an toàn, vệ sinh lao động.  Nhóm 1: Người quản lý phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: a) Người đứng đầu đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh và phòng, ban, chi nhánh trực thuộc; phụ trách bộ phận sản xuất, kinh doanh, kỹ thuật; quản đốc phân xưởng hoặc tương đương; b) Cấp phó của người đứng đầu theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này được giao nhiệm vụ phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động.  Nhóm 2: Người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: a) Chuyên trách, bán chuyên trách về an toàn, vệ sinh lao động của cơ sở; b) Người trực tiếp giám sát về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Nhóm 3: Người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động là người làm công việc thuộc Danh mục công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành. Nhóm 4: Người lao động không thuộc các nhóm theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều này, bao gồm cả người học nghề, tập nghề, thử việc để làm việc cho người sử dụng lao động. Nhóm 5: Người làm công tác y tế.  Nhóm 6: An toàn, vệ sinh viên theo quy định tại Điều 74 Luật an toàn, vệ sinh lao động. 2. Về nội dung huấn luyện Trong Nghị định số 44, nội dung huấn luyện an toàn lao động cho các nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động được quy định chặt chẽ hơn, chi tiết hơn so với Thông tư số 27/2013/TT-BLĐTBXH.  Huấn luyện nhóm 1 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh. Huấn luyện nhóm 2 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; xây dựng nội quy, quy chế, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; xây dựng, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch an toàn, vệ sinh lao động hằng năm; phân tích, đánh giá rủi ro và xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp; xây dựng hệ thống quản lý về an toàn, vệ sinh lao động; nghiệp vụ công tác tự kiểm tra; công tác điều tra tai nạn lao động; những yêu cầu của công tác kiểm định, huấn luyện và quan trắc môi trường lao động; quản lý máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; hoạt động thông tin, tuyên truyền, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động; sơ cấp cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp cho người lao động; công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật, thống kê, báo cáo công tác an toàn, vệ sinh lao động; c) Nội dung huấn luyện chuyên ngành: Kiến thức tổng hợp về máy, thiết bị, vật tư, chất phát sinh yếu tố nguy hiểm, có hại; quy trình làm việc an toàn với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động.  Huấn luyện nhóm 3 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động: Chính sách, chế độ về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và phương pháp cải thiện điều kiện lao động; chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; nội quy an toàn, vệ sinh lao động, biển báo, biển chỉ dẫn an toàn, vệ sinh lao động và sử dụng thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân; nghiệp vụ, kỹ năng sơ cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp; c) Nội dung huấn luyện chuyên ngành: Kiến thức tổng hợp về máy, thiết bị, vật tư, chất phát sinh các yếu tố nguy hiểm, có hại và phương pháp phân tích, đánh giá, quản lý rủi ro liên quan đến công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động mà người được huấn luyện đang làm; quy trình làm việc an toàn, vệ sinh lao động; kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động liên quan đến công việc của người lao động.  Huấn luyện nhóm 4 a) Kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động: Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động, người lao động; chính sách, chế độ về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và phương pháp cải thiện điều kiện lao động; chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; nội quy an toàn, vệ sinh lao động, biển báo, biển chỉ dẫn an toàn, vệ sinh lao động và sử dụng các thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân, nghiệp vụ, kỹ năng sơ cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp. b) Huấn luyện trực tiếp tại nơi làm việc: Quy trình làm việc và yêu cầu cụ thể về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.  Huấn luyện nhóm 5 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; c) Huấn luyện cấp Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động: Yếu tố có hại tại nơi làm việc; tổ chức quan trắc môi trường lao động để đánh giá yếu tố có hại; lập hồ sơ vệ sinh lao động tại nơi làm việc; các bệnh nghề nghiệp thường gặp và biện pháp phòng chống; cách tổ chức khám bệnh nghề nghiệp, khám bố trí việc làm, chuẩn bị hồ sơ giám định bệnh nghề nghiệp; tổ chức và kỹ năng sơ cứu, cấp cứu; phòng chống dịch bệnh tại nơi làm việc; an toàn thực phẩm; quy trình lấy và lưu mẫu thực phẩm; tổ chức thực hiện bồi dưỡng hiện vật và dinh dưỡng cho người lao động; nâng cao sức khỏe nơi làm việc, phòng chống bệnh không lây nhiễm tại nơi làm việc; kiến thức, kỹ năng, phương pháp xây dựng kế hoạch, phương án, trang bị phương tiện và điều kiện cần thiết để thực hiện công tác vệ sinh lao động; phương pháp truyền thông giáo dục về vệ sinh lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp; lập và quản lý thông tin về vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp tại nơi làm việc; lập và quản lý hồ sơ sức khỏe người lao động, hồ sơ sức khỏe của người bị bệnh nghề nghiệp. Công tác phối hợp với người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động hoặc bộ phận quản lý công tác an toàn, vệ sinh lao động để thực hiện nhiệm vụ liên quan theo quy định tại Điều 72 Luật an toàn, vệ sinh lao động. Huấn luyện nhóm 6 Người lao động tham gia mạng lưới an toàn, vệ sinh viên ngoài nội dung huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động theo quy định còn được huấn luyện bổ sung về kỹ năng và phương pháp hoạt động của an toàn, vệ sinh viên. 3. Về thời gian huấn luyện an toàn lao động Giống thông tư số 27, thời gian huấn luyện an toàn lao động theo quy định cho nhóm 1 và 4 vẫn giữ nguyên, tối thiểu 16 tiếng; nhóm 2 tối thiểu 48 tiếng. Tuy nhiên với nhóm 3, thời gian huấn luyện tối thiểu đã giảm từ 30 tiếng xuống 24 tiếng. Đặc biệt, nghị định số 44 có quy định thời gian huấn luyện tối thiểu với nhóm 5 và 6 lần lượt là 56 tiếng và 4 tiếng. 4. Về giấy chứng nhận, chứng chỉ an toàn lao động Theo quy định trong Thông tư số 27: – Nhóm 1 sẽ được cấp Chứng nhận huấn luyện (thời hạn 2 năm) – Nhóm 2, 3 là Chứng chỉ huấn luyện (thời hạn 5 năm) – Nhóm 4 sẽ được ghi kết quả huấn luyện vào sổ theo dõi công tác huấn luyện tại cơ sở. Tuy nhiên với Nghị định số 44, ngoài nhóm 4 được giữ nguyên, các nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động đều có thay đổi: – Sau khi hoàn thành khóa học và thông qua kiểm tra, sát hạch, nhóm 1, 2, 5, 6 đều được nhận Chứng nhận huấn luyện an toàn lao động với thời hạn 2 năm. – Với nhóm 3 những người lao động thường xuyên làm việc trong môi trường có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động sẽ được cấp thẻ an toàn lao động có thời hạn 2 năm. – Với nhóm 5, ngoài Chứng nhận huấn luyện an toàn lao động còn được cấp Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động(thời hạn 5 năm). Nội dung hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động được quy định trong Chương 3 của Nghị định. Chương này gồm 16 điều (điều 17 đến điều 32) chia làm 5 mục. Mục 1. Đối tương, nội dung và yêu cầu chung trong hoạt động huấn luyện.Gồm 5 điều (từ điều 17 đến điều 21) quy định đối tượng tham dự khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, nội dung huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, thời gian huấn luyện, chương trình khung và chương trình, tài liệu huấn luyện, huấn luyện, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng về an toàn, vệ sinh lao động và huấn luyện định kỳ. Mục 2. Người huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.Gồm 2 điều (điều 22, điều 23) quy định tiêu chuẩn người huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, xác định thời gian đã làm việc hoặc thời gian đã làm công việc huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động. Mục 3. Giấy chứng nhận huấn luyện, thẻ an toàn và chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động.Gồm 2 điều (điều 24, điều 25) quy định quản lý việc cấp Giấy chứng nhận huấn luyện, Thẻ an toàn, và Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động, thời hạn cấp, cấp mới Giấy chứng nhận huấn luyện, Thẻ an toàn, Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động. Mục 4. Tổ chức huấn luyện, doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.Gồm 6 điều (điều 26 đến điều 31) quy định phân loại tổ chức huấn luyện và điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động, thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động của Tổ chức huấn luyện, hồ sơ, thủ tục cấp mới, cấp lại, gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động của Tổ chức huấn luyện, công nhận cơ sở y tế đủ điều kiện huấn luyện cấp chứng chỉ chứng nhận về y tế lao động, doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, mẫu, thời hạn cấp mới, cấp lại, gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động. Mục 5. Huấn luyện cho người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động, quy định chi tiết hỗ trợ huấn luyện người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động. Theo đó đối tượng được ưu tiên hỗ trợ chi phí huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động là người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng và thân nhân chủ yếu của người có công với cách mạng làm việc không theo hợp đồng lao động khi làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động. Về nguyên tắc hỗ trợ được quy định: - Hỗ trợ chi phí huấn luyện 01 lần đối với 01 công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; - Tham gia đầy đủ chương trình huấn luyện và sát hạch đạt yêu cầu, được cấp Thẻ an toàn; - Hỗ trợ trực tiếp cho người lao động hoặc thông qua Tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động. Cũng theo quy định này mức hỗ trợ theo chi phí thực tế của khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động nhưng không quá 50% mức lương cơ sở/người/khóa huấn luyện theo quy định của Chính phủ tại thời điểm huấn luyện. Nguồn kinh phí hỗ trợ được bố trí trong dự toán chi thường xuyên của cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành. ...


   “Đồng sức, đồng lòng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách để phát triển DN nhanh và bền vững"

    Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh Bình Định tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ VI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 trong 3 ngày từ 26 - 28/8/2015 vào thời điểm đất nước có nhiều sự kiện lịch sử chính trị trọng đại. Với tinh thần quyết tâm “Xây dựng Đảng bộ thực sự trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; đồng sức, đồng lòng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách để phát triển doanh nghiệp nhanh và bền vững, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định”. Đại hội lần này có nhiệm vụ đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Khối lần thứ V, đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2015 – 2020, bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa VI, bầu đoàn đại biểu dự Đại hội XIX Đảng bộ tỉnh và tham gia đóng góp các văn kiện Đại hội cấp trên. Trong 5 năm qua, Đảng bộ đã hoạt động trong điều kiện những thuận lợi và khó khăn đan xen. Đảng và Nhà nước có đường lối chủ trương đúng đắn, có những giải pháp hữu hiệu để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh xúc tiến, thu hút đầu tư được một số dự án có tính động lực cho phát triển khu kinh tế, khu công nghiệp; tổ chức tốt công tác bồi thường giải phóng mặt bằng phục vụ các dự án; xây dựng đồng bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật thiết yếu của Khu kinh tế; Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng chịu sự tác động không nhỏ của tình hình kinh tế, chính trị thế giới với nhiều biến động, bất ổn, nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới; một số doanh nghiệp vốn ít, công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh thấp, giá cả nguyên, nhiên, vật liệu vẫn còn ở mức cao; thị trường xuất khẩu chưa được khai thông, sức mua của nền kinh tế còn thấp; thiên tai, dịch bệnh, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tác động xấu đến sản xuất, kinh doanh, một số doanh nghiệp phải giải thể hoặc sản xuất cầm chừng, đời sống của cán bộ, công nhân viên, người lao động gặp không ít khó khăn; quá trình lãnh đạo hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước còn nhiều bất cập. Trước tình hình trên, cán bộ, đảng viên và công nhân lao động trong toàn Đảng bộ đã có sự nỗ lực, quyết tâm nắm bắt thời cơ, vượt qua các thách thức, phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Khối lần thứ V, nhiệm kỳ 2010 – 2015 và các Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng. Doanh thu của các doanh nghiệp trong Khối tăng trung bình 19%/năm, nộp ngân sách Nhà nước tăng 25,8%/năm; thu nhập bình quân của người lao động tăng 13,3%/năm; kim ngạch xuất khẩu tăng trên 39,7% gồm các mặt hàng chủ yếu như: khoáng sản, gỗ nội thất, hàng thủy sản đông lạnh, quần áo, giày dép...; lượng khách du lịch tăng từ 10-15%/năm; giao thông vận tải cơ bản đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại, giao lưu; bưu chính viễn thông phát triển, đáp ứng nhu cầu thông tin, giao dịch; sản xuất và cung cấp đủ điện phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt và an ninh quốc phòng, tiếp nhận xong lưới điện nông thôn; sản lượng nước sạch hàng năm tăng 5%; tín dụng ngân hàng tiếp tục thực hiện tốt vai trò huy động vốn và cho vay đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng kịp thời nguồn vốn cho vay đối với các doanh nghiệp, giúp tháo gỡ khó khăn, duy trì và tiếp tục phát triển. Nhiều doanh nghiệp đã quan tâm đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị, mở rộng sản xuất, tạo ra sản phẩm chất lượng, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế, tổng giá trị đầu tư bình quân hàng năm đạt trên 690 tỷ đồng; xây dựng và duy trì hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000, ISO 9001: 2008, ISO 14000 về quản lý chất lượng và quản lý môi trường; HACCP, GMP WHO về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, dược phẩm, thiết bị y tế. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo đúng lộ trình; hầu hết các doanh nghiệp sau khi chuyển đổi thì năng lực hoạt động hiệu quả hơn, tích cực tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; bố trí lại đội ngũ cán bộ quản lý và lực lượng lao động, đổi mới quy trình quản lý, công tác quản trị và điều hành, không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh; bảo toàn và phát triển nguồn vốn; hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước; nâng cao thu nhập cho người lao động v.v.. Công tác văn hóa, xã hội được các cấp ủy, lãnh đạo doanh nghiệp và các đoàn thể quan tâm đúng mức, đời sống văn hóa tinh thần, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp từng bước nâng lên, nhiều doanh nghiệp đạt chuẩn Xanh - Sạch - Đẹp; tổng số tiền các doanh nghiệp đóng góp cho công tác xã hội, nhân đạo, từ thiện đạt 87,5 tỷ đồng; gắn hoạt động sản xuất kinh doanh với công tác bảo vệ môi trường, thường xuyên tuyên truyền và vận động cán bộ, công nhân viên, lao động hưởng ứng các hoạt động ngày môi trường thế giới (05/6), chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn, giờ trái đất, cảnh quan, môi trường xung quanh các đơn vị, doanh nghiệp đều được tổ chức vệ sinh, trồng cây xanh, chỉnh trang hoa viên, cây cảnh tạo môi trường xanh, sạch, đẹp. Công tác quốc phòng, an ninh được tăng cường, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng và củng cố, nâng cao chất lượng lực lượng tự vệ, đủ số lượng, bảo đảm chất lượng theo quy định trong Luật dân quân tự vệ. Hàng năm, lực lượng tự vệ được tổ chức huấn luyện, kiểm tra bắn đạn thật đảm bảo yêu cầu; xây dựng phương án chiến đấu tại chỗ và sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống bất trắc xảy ra; lực lượng bảo vệ trong các đơn vị luôn được củng cố và tăng cường, bố trí tuần tra canh gác 24/24 giờ, đảm bảo giữ gìn tài sản của doanh nghiệp; phối hợp với các lực lượng an ninh trên địa bàn ngăn chặn kịp thời những vụ việc phá hoại sản xuất, trộm cắp tài sản và các tệ nạn xã hội. Công tác phòng cháy chữa cháy thường xuyên được kiểm tra, bổ sung trang thiết bị, đồng thời gắn với công tác vệ sinh công nghiệp và an toàn lao động. Định kỳ hàng năm tổ chức diễn tập đạt chất lượng, nhiều đơn vị đạt thứ hạng cao. Phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc trong các doanh nghiệp, được các cấp ủy đảng quan tâm chỉ đạo, phối hợp với Công an tỉnh Bình Định tổ chức phát động các phong trào nhằm tuyên truyền giáo dục cán bộ, đảng viên, công nhân lao động nhận thức rõ âm mưu diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giáo dục người lao động ý thức bảo mật kinh tế, bí mật quốc gia; kịp thời phát hiện và ngăn chặn các biểu hiện phá hoại, tuyên truyền, kích động gây mất an ninh, góp phần tích cực trong việc bảo vệ an ninh trong đơn vị, doanh nghiệp. Công tác xây dựng Đảng đạt được những kết quả tích cực; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy Đảng từng bước được nâng lên, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới. Việc tổ chức quán triệt các nghị quyết của Đảng được chỉ đạo chặt chẽ, đảm bảo tính nghiêm túc và kịp thời; chú trọng đổi mới về hình thức, phương pháp phù hợp với đặc điểm, điều kiện ở cơ sở; đẩy mạnh “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cùng với tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân Việt Nam, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết, củng cố lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo sự nhất trí về tư tưởng và hành động. Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên được chú trọng, trong nhiệm kỳ có 128 đồng chí được cử đi học cao cấp chính trị; 395 đồng chí học trung cấp chính trị, Đảng ủy Khối mở 01 lớp sơ cấp lý luận chính trị cho 80 cán bộ, đảng viên; 02 lớp hoàn chỉnh chương trình Sơ cấp lý luận chính trị cho 186 đồng chí; xác nhận trình độ tương đương Sơ cấp lý luận chính trị cho 349 đồng chí; 14 lớp đảng viên mới cho 1450 đảng viên mới; 20 lớp nhận thức về Đảng cho 2309 quần chúng ưu tú và 03 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng với 331 đồng chí là cấp ủy viên cơ sở, 01 lớp nâng cao kiến thức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý. Công tác tổ chức, cán bộ có sự chuyển biến tích cực, hầu hết các doanh nghiệp đều có sự sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, đồng bộ, hiệu quả; các doanh nghiệp nhà nước sắp xếp tổ chức lại theo hướng kinh doanh đa ngành nghề. Củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng được tổ chức thực hiện nghiêm túc theo tinh thần Nghị quyết 22-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) về “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên”; triển khai, thực hiện Chỉ thị 12-CT/TU của  Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác xây dựng tổ chức đảng và các đoàn thể trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước đạt kết quả khá. Đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng được triển khai nghiêm túc, đúng quy định, số tổ chức cơ sở đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh bình quân 3 năm đầu nhiệm kỳ là 62,35%, năm thứ tư đạt 55,29% (chỉ tiêu theo hướng dẫn của Trung ương không nên quá 50%), 13 cơ sở Đảng đạt “Trong sạch, vững mạnh tiêu biểu” 03 năm liền (2011 - 2013). Công tác phát triển đảng viên được chú trọng, nhất là tạo nguồn, bồi dưỡng quần chúng ưu tú ở cơ sở. Trong nhiệm kỳ, phát triển được 1129 đảng viên, bình quân mỗi năm đạt 6,92% trên tổng số đảng viên có mặt đầu năm (chỉ tiêu của nghị quyết 6%). Chất lượng đảng viên mới được nâng lên, tập trung phát triển ở các đối tượng là cán bộ khoa học kỹ thuật, là nữ, đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh, công nhân trực tiếp lao động. Các cấp ủy Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo công tác đoàn thể chính trị - xã hội (Công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Cựu chiến binh) phát huy vai trò, hoạt động đúng điều lệ. Ban chấp hành các đoàn thể phát động và tham gia các phong trào thi đua thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực hiện các công trình, phần việc thanh niên, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, lao động giỏi, lao động sáng tạo với năng suất – chất lượng – hiệu quả cao, góp phần hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của đơn vị, đồng thời là chỗ dựa tinh thần của quần chúng; quan tâm, chăm lo bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng chất lượng, hiệu quả. Đ/c Võ Vinh Quang-Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy phát biểu chỉ đạo Đại hội Đảng bộ Khối doanh nghiệp lần thứ VI     Nhìn lại 5 năm qua, Đại hội cũng nghiêm túc nhận thấy còn có những khuyết điểm cần phải khắc phục. Một số cấp ủy Đảng có lúc chưa thật sự chủ động trong việc xây dựng kế hoạch và đề ra các giải pháp kịp thời để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Ở một số doanh nghiệp việc đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ chưa đồng bộ; sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ kéo dài nhưng chậm có giải pháp để khắc phục; việc sắp xếp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước có nơi, có lúc chưa kịp tiến độ kế hoạch đề ra; tạo việc làm mới cho người lao động chủ yếu có tính thời vụ; việc thực hiện chính sách, chế độ cho người lao động chưa nghiêm; giá trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong các khu kinh tế, khu công nghiệp còn thấp.  Một số nơi chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng học tập, quán triệt, cụ thể hóa nghị quyết của Đảng thành kế hoạch, chương trình hành động để tổ chức thực hiện; nội dung và hình thức tuyên truyền giáo dục truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân Việt Nam còn đơn điệu, thiếu tính thuyết phục. Một số cấp ủy thực hiện chưa đúng chế độ sinh hoạt Đảng theo quy định, việc tổ chức sinh hoạt chuyên đề nội dung chưa phong phú, chất lượng chưa cao; kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết TW 4 còn nể nang, e ngại, chậm có kế hoạch, biện pháp sửa chữa, khắc phục khuyết điểm; thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW thời gian đầu còn lúng túng, hình thức, ý thức làm theo mờ nhạt, chưa thực sự trở thành hành động tự giác hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên. Việc thành lập các tổ chức đoàn thanh niên trong các doanh nghiệp ngoài khu vực ngoài nhà nước còn chậm, chưa đáp ứng ưu cầu đặt ra. Những hạn chế, yếu kém trên có nhiều nguyên nhân, trong đó những nguyên nhân chủ quan là: Một số tổ chức cơ sở Đảng chưa phát huy vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh; chưa nắm chắc và dự báo sát tình hình để đề ra các giải pháp phù hợp; quản lý đảng viên lỏng lẻo; tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình không cao; một số cấp ủy viên và đảng viên thiếu gương mẫu, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện quy chế làm việc không nghiêm; đội ngũ cán bộ chưa mạnh và thiếu ổn định; chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của từng cấp ủy viên; vai trò lãnh đạo của ban chấp hành công đoàn, đoàn thanh niên mờ nhạt, chưa thu hút người lao động đến với tổ chức. Nhìn lại 5 năm hoạt động Đại hội VI của Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh Bình Định đã nêu lên một số kinh nghiệm chủ yếu để nhiệm kỳ mới thực hiện thành công Nghị quyết của Đại hội. Một là, trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị phải xây dựng định hướng phát triển chiến lược, nắm bắt và tận dụng thời cơ để đầu tư theo hướng khai thác lợi thế so sánh; phát huy tính tự chủ, giảm thiểu tác động tiêu cực từ bên ngoài. Trên cơ sở đó, chuẩn bị tốt nhân lực, vật lực, triển khai đồng bộ, nhanh chóng đưa dự án, công trình vào hoạt động để khai thác, nâng cao năng suất lao động, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, tăng sức cạnh tranh trên thị trường; bảo đảm duy trì sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp. Hai là, triển khai quán triệt Nghị quyết, Chỉ thị phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện của tổ chức cơ sở đảng trong mỗi loại hình doanh nghiệp. Trong xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết cần xác định trọng tâm, trọng điểm, những lĩnh vực then chốt, gắn với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, doanh nghiệp, từ đó đề ra giải pháp cụ thể, có tính khả thi để tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao nhất. Ba là, chăm lo công tác xây dựng tổ chức đảng, xây dựng quy chế và làm việc; xây dựng khối đoàn kết, thống nhất tư tưởng và hành động trong cán bộ đảng viên; thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức đảng và đảng viên để phát huy nhân tố tích cực, chấn chỉnh kịp thời những sai phạm, khuyết điểm. Thực hiện tốt công tác cán bộ, nhất là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ chủ chốt, đảm bảo tiêu chuẩn, thật sự có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, tâm huyết và trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao. Bốn là, phải gắn việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) với đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc thường xuyên, quan trọng, gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị; đổi mới nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đưa việc tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào nội dung sinh hoạt chi bộ thường kỳ, kiểm điểm cuối năm của tổ chức đảng và đảng viên… Đặc biệt, phải duy trì nề nếp công tác kiểm tra của cấp ủy đối với đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới, nghiêm túc thực hiện việc sơ kết đánh giá định kỳ thực hiện Nghị quyết TW4 gắn với Chỉ thị 03-CT/TW. Năm là, đổi mới phương thức lãnh đạo đối với các đoàn thể chính trị là yếu tố quan trọng trong phát huy dân chủ. Các cấp ủy đảng quan tâm xây dựng tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên và Hội Cựu chiến binh vững mạnh chính là xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh. Qua đó tạo mối quan hệ giữa cấp ủy với hội đồng quản trị, lãnh đạo doanh nghiệp và Ban chấp hành các đoàn thể, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, tạo sự đồng thuận nhất trí cao trong cán bộ, đảng viên và người lao động, góp phần quyết định sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Sáu là, phải tạo sự chuyển biến trong nhận thức của các cấp ủy đảng, lãnh đạo doanh nghiệp và người lao động về mục tiêu, các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, sát thực tế và gắn liền với nhiệm vụ chính trị của từng đơn vị để thống nhất nhận thức và hành động trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết....
  • Hình ảnh hoạt động

  • Video hoạt động

1 2 3 4 5 7 9
Beardyman and Reggie Watts on Channel 4 Headspace A Closer Look At The iPhone Political Roast : Obama Emanuel 2005