Bạn đang ở mục Trang chủ

Công đoàn ngành Giáo dục tỉnh bàn giao nhà công vụ giáo viên
      Ngày 17/9, Công đoàn Giáo dục Bình Định tổ chức Lễ bàn giao Nhà công vụ giáo viên Trường THPT số 3 Tuy Phước và Nhà công vụ giáo viên Trường Tiểu học số 2 Mỹ Thành. Dự lễ bàn giao có đồng chí Phan Thanh Liêm - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Bình Định; đồng chí Lê Thị Tuyết Trinh - Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban chính sách-pháp luật LĐLĐ tỉnh; đồng chí Nguyễn Thị Thanh - Chủ tịch Công đoàn giáo dục tỉnh; ông Trần Công Chiếu - Phó Ban tổ chức nhân sự Tổng Công ty CP Dịch vụ Dầu khí Việt Nam; ông Bùi Văn Thường - Chủ tịch công đoàn Công ty TNHH MTV Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC… Để tạo điều kiện cho giáo viên có chỗ ở ổn định, yên tâm công tác, Công đoàn giáo dục tỉnh đã vận động Công ty TNHH MTV Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC (thuộc Tổng Công ty CP Dịch vụ Dầu khí Việt Nam) hỗ trợ kinh phí xây dựng mỗi Nhà công vụ giáo viên là 500.000.000 đồng. Lãnh đạo cắt băng khánh thành Nhà công vụ giáo viên Trường THPT số 3 Tuy Phước Sau 3 tháng thi công, công trình Nhà công vụ giáo viên của Trường THPT số 3 Tuy Phước (Kim Tây, xã Phước Hòa thuộc khu đông vùng rốn lũ của huyện Tuy Phước) đã hoàn thành trên diện tích xây dựng 127m2, gồm 4 phòng ở khang trang, có đầy đủ giường ngủ, bếp nấu ăn, nhà vệ sinh, hành lang với tổng kinh phí là 800.000.000 đồng (trong đó UBND huyện Tuy Phước hỗ trợ 300.000.000 đồng). Công trình Nhà công vụ giáo viên của Trường Tiểu học số 2 Mỹ Thành (thôn Vĩnh Lợi, xã Mỹ Thành, thuộc vùng bãi ngang ven biển huyện Phù Mỹ) được xây dựng với diện tích 123 m2, có 3 phòng ở khang trang, sạch sẽ, tổng kinh phí xây dựng là 575.516.000 đồng.                  Cô giáo Dương Thị Bích Liên - Hiệu trưởng Trường THPT số 3 Tuy Phước bày tỏ niềm vui khi “Có nhà công vụ, giáo viên ở xa nhà sẽ có điều kiện ăn, ở ổn định. Điều này giúp chúng tôi giảm bớt khó khăn và thuận lợi hơn trong quá trình công tác, tạo động lực để giáo viên yên tâm giảng dạy, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”. Nhà công vụ giáo viên là công trình có ý nghĩa, nhằm động viên cán bộ giáo viên ở vùng khó khăn nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ trồng người. Dịp này, LĐLĐ tỉnh và Công đoàn giáo dục tỉnh đã trao tặng các phần quà gồm: ti vi, bếp ga, bình ga… cho Trường THPT số 3 Tuy Phước và Trường Tiểu học số 2 Mỹ Thành với tổng kinh phí là 30.000.000 đồng.
Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh và Công đoàn Khu kinh tế tỉnh tổ chức Giải bóng đá CNVCLĐ Khu kinh tế,
      Thiết thực lập thành tích chào mừng kỷ niệm 71 năm ngày Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam (2.9.1945 - 2.9.2016), từ ngày 26-28.8.2016, Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh phối hợp với Công đoàn Khu kinh tế tỉnh tổ chức Giải bóng đá CNVCLĐ Khu kinh tế, các KCN tỉnh năm 2016. Tham gia giải lần này có 17 đội với 230 vận động viên đang làm việc tại các doanh nghiệp đang hoạt động tại các khu kinh tế, khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh và cán bộ Văn phòng Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh. Các đội được chia thành 5 bảng, thi đấu vòng tròn một lượt theo luật bóng đá 7 người, chọn 8 đội xuất sắc nhất vào tứ kết. Kết quả, đội bóng Công ty TNHH Sông Kôn giành giải Nhất, đội Công ty TNHH Đại Việt giành giải Nhì, đội Công ty TNHH Hoa Sen Bình Định giành giải Ba. Ngoài ra, Ban tổ chức còn trao giải cho Thủ môn xuất sắc nhất giải và Cầu thủ xuất sắc nhất giải.  Đ/c Nguyễn Mạnh Hùng - Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh trao giải Nhất cho đội bóng Công ty TNHH Sông Kôn Giải bóng đá CNVCLĐ Khu kinh tế, các KCN tỉnh năm 2016 do Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh phối hợp với Công đoàn Khu kinh tế tỉnh tổ chức, nhằm cổ vũ tinh thần rèn luyện sức khỏe của người lao động làm việc tại khu kinh tế và các khu công nghiệp. 
LĐLĐ tỉnh gắn biển 2 công trình tổng giá trị 12,5 tỷ đồng tại huyện Phù Cát và Tuy Phước
      Ngày 30.8, LĐLĐ tỉnh phối hợp LĐLĐ huyện Phù Cát và Công ty CP Xây lắp điện Tuy Phước tổ chức gắn biển 2 công trình tiêu biểu với tổng giá trị 12,5 tỷ đồng, nhằm chào mừng kỷ niệm 71 năm ngày Quốc khánh Nước CHXHCN Việt Nam (2.9).   Đ/c Nguyễn Thị Thu Hà - Phó Chủ tịch phụ trách LĐLĐ tỉnh trao quyết định gắn biển công trình cho Ban giám hiệu nhà trường Đó là công trình “Xây dựng phòng học mới” của trường Tiểu học số 1 Cát Tài (xã Cát Tài, huyện Phù Cát), với quy mô 2 tầng gồm 10 phòng học, với tổng diện tích xây dựng 760 m2, được đầu tư xây dựng bằng hình thức xã hội hóa với tổng kinh phí gần 5 tỷ đồng (trong đó UBND tỉnh hỗ trợ 1 tỷ đồng và Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam hỗ trợ gần 4 tỷ đồng). Theo ông Ngô Tùng Toại – Hiệu trưởng trường Tiểu học số 1 Cát Tài cho biết, công trình này đã kịp thời đưa vào sử dụng nhân dịp đầu năm học mới 2016-2017, đảm bảo đầy đủ phòng học khang trang, sạch đẹp cho gần 300 em học sinh của trường. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng việc dạy và học, đảm bảo tốt sức khỏe và an toàn cho giáo viên và học sinh của trường.   Quang cảnh lễ gắn biển công trình "Chống quá tải lưới điện Bình Định" tại xã Phước Nghĩa Công trình “Chống quá tải lưới điện Bình Định” được đầu tư xây dựng 7,5 tỷ đồng, xây dựng trên mặt bằng tại 3 xã Phước An, Phước Thành, Phước Nghĩa và 2 thị trấn Tuy Phước và Diêu Trì, với quy mô gồm 7 trạm biến áp và 20 km đường dây trung áp, do Công ty Điện lực làm chủ đầu tư và Công ty CP Xây lắp điện Tuy Phước thi công và hoàn thành công trình vượt tiến độ trước 60 ngày. Hiệu quả của công trình khi đưa vào sử dụng sẽ làm giảm tỷ lệ tổn thất điện năng 0,2% và đồng thời cung cấp đầy đủ điện năng cho các doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh và điện sinh hoạt cho nhân dân, tránh được trình trạng thường xuyên mất điện trước đây trên địa bàn các xã và thị trấn của huyện Tuy Phước. Phát biểu tại buổi lễ gắn biển công trình sản phẩm tiêu biểu, đồng chí Nguyễn Thị Thu Hà - Phó Chủ tịch phụ trách LĐLĐ tỉnh đánh giá cao về tính chất quy mô, mục đích và ý nghĩa về kinh tế - xã hội to lớn của các công trình được gắn biển trong đợt này. Đồng chí cũng mong muốn các CĐCS và CB,CNLĐ chung tay đóng góp với vai trò và chức năng của mình, để các công trình này được phát huy hiệu quả tích cực đối với xã hội và địa phương.
LĐLĐ Quy Nhơn tổ chức Hội thảo về lịch sử phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn thành phố
      Sáng ngày 14/9, LĐLĐ thành phố Quy Nhơn tổ chức “Hội thảo biên soạn lịch sử phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn thành phố Quy Nhơn (giai đoạn 1930 - 2015) lần thứ 2.  Dự hội thảo có đồng chí Nguyễn Ngọc Anh - Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh; các đồng chí lãnh đạo các Ban xây dựng Đảng Thành ủy; Ban Thường vụ LĐLĐ thành phố cùng các đồng chí lãnh đạo và cán bộ chuyên trách công đoàn thành phố qua các thời kỳ. Việc biên soạn “Lịch sử phong trào CNVCLĐ và công đoàn thành phố Quy Nhơn” nhằm ghi lại quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ CNVCLĐ và tổ chức công đoàn thành phố Quy Nhơn qua các giai đoạn cách mạng; hướng đến chào mừng Đại hội IX Công đoàn thành phố Quy Nhơn. Đây là công trình nghiên cứu khoa học có ý nghĩa thực tiễn, góp phần giáo dục truyền thống của Đảng, của dân tộc và tổ chức công đoàn; củng cố niềm tin, tạo sự thống nhất trong ý chí và hành động của đội ngũ cán bộ, công nhân, viên chức, lao động và các cấp công đoàn thành phố. Quang cảnh hội nghị Theo dự thảo lịch sử thảo lần hai, tập sách ngoài phần giới thiệu mở đầu, kết luận còn có 6 chương: Chương mở đầu: Thành phố Quy Nhơn - Mảnh đất, con người và truyền thống yêu nước; Chương I: Sự hình thành và phong trào công nhân lao động Quy Nhơn (1930 - 1945); Chương II: Công đoàn Quy Nhơn trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954); Chương III: Công đoàn Quy Nhơn trong kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975); Chương IV: Phong trào công nhân và hoạt động công đoàn Quy Nhơn trong giai đoạn 1975 - 1988; Chương V: Phong trào công nhân và hoạt động công đoàn Quy Nhơn trong giai đoạn 1988 - 2015. Dự kiến, tập sách sẽ được phát hành và ra mắt giới thiệu tháng 11/2016. Tại hội thảo, các đại biểu cho rằng trong điều kiện hiện nay, việc biên soạn cuốn “Lịch sử phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn thành phố Quy Nhơn (giai đoạn 1930 - 2015)” là rất cần thiết. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức sưu tầm tài liệu, nghiên cứu và biên soạn, cần khắc phục khó khăn do tài liệu phần nào bị thất lạc, nhiều nhân chứng lịch sử qua các thời kỳ cách mạng đã già yếu, không còn nữa; tập sách cần tập hợp tương đối đầy đủ các tư liệu do cấp ủy, chính quyền, tổ chức công đoàn các cấp, các đồng chí lãnh đạo và nhân chứng qua các thời kỳ cung cấp. Những tư liệu này phải đảm bảo tính chính xác, trung thực và khách quan. Các đại biểu tham gia thảo luận Các đại biểu cũng thảo luận, làm rõ những nội dung cơ bản sẽ được trình bày trong cuốn sách. Trong đó, khái quát được sự hình thành, quá trình phát triển và đấu tranh cách mạng vẻ vang kể từ khi đội ngũ công nhân lao động và công đoàn Quy Nhơn được thành lập đến nay; phương hướng phát triển của phong trào công nhân lao động và công đoàn thành phố trong thời gian tới, nhất là trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đặc biệt là khi Việt Nam chính thức ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)... Đồng thời, đề nghị Ban biên soạn điều chỉnh các chương, các mốc thời gian sao cho phù hợp, đảm bảo tính khoa học.  Kết luận hội nghị, đồng chí Nguyễn Ngọc Tiến - Chủ tịch LĐLĐ thành phố Quy Nhơn, Trưởng ban chỉ đạo biên soạn lịch sử đã ghi nhận, biểu dương kết quả bước đầu của Ban biên soạn và tổ biên tập tập sách; đồng thời yêu cầu dưới sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Thành ủy Quy Nhơn và Ban Thường vụ LĐLĐ tỉnh Bình Định, Ban biên soạn cần tiếp thu những ý kiến đóng góp để điều chỉnh tập sách cho phù hợp; bày tỏ mong muốn các đại biểu, các nhân chứng lịch sử tiếp tục gửi ý kiến góp ý hoàn chỉnh bản dự thảo lịch sử để đăng ký thẩm định, xuất bản tập sách đạt chất lượng và thu hút được bạn đọc.
LĐLĐ thành phố Quy Nhơn phối hợp tổ chức “Vui Tết trung thu”
      Tối ngày 13/9, tại Trung tâm hành chính thành phố Quy Nhơn, LĐLĐ thành phố Quy Nhơn phối hợp với Văn phòng HĐND và UBND thành phố tổ chức Chương trình “Vui Tết trung thu” cho các cháu thiếu niên, nhi đồng là con cán bộ công chức, viên chức, lao động của các cơ quan trong Khối Đảng, Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể thành phố. Đến dự Chương trình có các đồng chí: Ngô Hoàng Nam - Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố; Nguyễn Đình Kha - Phó Bí thư Thành ủy; Đặng Mạnh Cường - UVBTV Thành ủy, Phó Chủ tịch HĐND thành phố; Nguyễn Tiến Dũng - UVBTV Thành ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố cùng các đồng chí lãnh đạo các cơ quan, ban ngành, hội đoàn thể thành phố. Chương trình biểu diễn lân sư rồng Với chủ đề “Đêm hội trăng rằm”, chương trình đã diễn ra sôi nổi với những hoạt động thiết thực, nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc, múa lân sư rồng, giao lưu với chú Cuội, chị Hằng, tham gia các trò chơi, cùng nhau phá cỗ rước đèn và phát tặng 326 suất quà cho các cháu... “Vui Tết trung thu” đã diễn ra trong không khí vui tươi, sôi động và bổ ích.  Đ/c Nguyễn Tiến Dũng - UVBTV Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố tặng quà các cháu Ông Nguyễn Ngọc Tiến - Chủ tịch LĐLĐ thành phố Quy Nhơn cho biết: “Đây là hoạt động thiết thực để Tết trung thu thực sự là ngày hội của trẻ thơ, thể hiện sự quan tâm của công đoàn thành phố đối với con CNVCLĐ thành phố, qua đó giúp các em luôn nhớ về nét đẹp truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, góp phần cổ vũ, động viên các em bước vào một năm học mới đạt được nhiều thành tích cao trong học tập, phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ”.

bacho



THÔNG BÁO - MỜI HỌP

  Lịch công tác của Liên đoàn Lao động tỉnh từ ngày 19/9 đến 25/9/2016 được đăng tải trên Trang thông tin điện tử Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Định tại mục Văn bản.

  • TIN HOẠT ĐỘNG

  • LĐLĐ tỉnh

  • LĐLĐ huyện, thị xã, thành phố

  • Công đoàn ngành

  • Công đoàn cơ sở

  • Tin trong tỉnh



   Hội thi Nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ của tỉnh năm 2016 sẽ tổ chức vào ngày 25/9

    Đây là một trong số các hoạt động sẽ được triển khai thực hiện trong chuỗi các hoạt động kỷ niệm 55 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát Phòng cháy và chữa cháy (04/10/1961-04/10/2016), 15 năm Ngày toàn dân phòng cháy và chữa cháy (04/10/2001-04/10/2016) do UBND tỉnh chỉ đạo. Tại cuộc họp Ban Tổ chức Hội thi Thể thao Nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trên địa bàn tỉnh năm 2016 được tổ chức vào ngày 15/9/2016 vừa qua tại Sở Cảnh sát Phòng cháy và chữa cháy tỉnh Bình Định. Thay mặt cho lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, đồng chí Đại tá Trần Ngọc Thanh - Giám đốc Cảnh sát PCCC  tỉnh - đã báo cáo kết quả tổ chức các hoạt động chào mừng kỷ niệm 55 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát PCCC và 15 năm Ngày toàn dân PCCC trên địa bàn tỉnh và các công tác chuẩn bị cho việc tổ chức Hội thi. Theo đó, Hội thi gồm có 54 đội tuyển của 33 đoàn tham gia gồm các lực lượng của Cảnh sát PCCC tỉnh, lực lượng dân phòng, lực lượng PCCC cơ sở và chuyên ngành. Các đội thi sẽ được chia làm các bảng đấu phù hợp với đặc thù của lực lượng tham gia hội thi...    Lực lượng PCCC đang thi đấu (ảnh minh họa) Sau khi lắng nghe các ý kiến của đại biểu, đồng chí Nguyễn Tuấn Thanh - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Hội thi đã kết luận những vấn đề liên quan đến công tác tổ chức Hội thi và đồng ý thời gian tổ chức Hội thi là vào sáng ngày 25/9 tại Quảng trường Chiến thắng thành phố Quy Nhơn. Được biết, thời gian qua, lực lượng cảnh sát PCCC tỉnh còn tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm khác như giải bóng chuyền gồm 8 đội tham gia, hội diễn văn nghệ của ngành, công tác đền ơn đáp nghĩa và các hoạt động tuyên truyền khác....


   LĐLĐ tỉnh tặng quà cho học sinh nghèo của Trường THCS An Tân

    Tiếp nhận 102 đôi giày thể thao hiệu Nike từ Quỹ Xã hội từ thiện Tấm Lòng Vàng của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, sáng ngày 5/9 nhân dịp Lễ Khai giảng năm học 2016 - 2017, Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Định tổ chức trao số giày Nike trực tiếp cho 102 em học sinh thuộc hộ nghèo của Trường THCS An Tân, huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Tổng giá trị số quà gần 50 triệu đồng. Đ/c Nguyễn Ngọc Anh-Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh (người thứ 6 từ phải qua) tặng quà cho các em học sinh Trường THCS An Tân Đây là hoạt động có ý nghĩa thiết thực, mong rằng những phần quà này sẽ phần nào chia sẻ những khó khăn, động viên và tạo thêm động lực, góp sức cho các em học sinh thuộc diện hộ nghèo của nhà trường vững bước trên bước đường đến trường....


   LĐLĐ Phù Cát tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác công đoàn năm 2016

    Vừa qua, LĐLĐ huyện Phù Cát tổ chức Hội nghị tập huấn công tác tổ chức và kiểm tra công đoàn cho 268 đồng chí là chủ tịch và ủy vên UBKT các CĐCS, nghiệp đoàn trực thuộc LĐLĐ huyện. Đồng chí Nguyễn Thị Vinh - Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tổ chức và đồng chí Dương Lê Hồng Thủy-Phó Chủ nhiệm UBKT LĐLĐ tỉnh trực tiếp truyền đạt các nội dung tại Hội nghị tập huấn. Tham dự Hội nghị tập huấn các học viên được nghe phổ biến các nội dung: Một số vấn đề về đại hội công đoàn các cấp; hội nghị người lao động, hội nghị cán bộ công chức viên chức; Nội dung phương pháp hoạt động công đoàn; Công tác kiểm tra công đoàn và hoạt động của UBKT công đoàn các cấp. Thông qua Hội nghị tập huấn góp phần nâng cao nghiệp vụ công tác công đoàn cho cán bộ công đoàn cơ sở, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác công đoàn hiện nay....


   Công đoàn ngành Y tế tỉnh tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác công đoàn

    Ngày 21.9, Công đoàn ngành Y tế tỉnh đã tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác công đoàn năm 2016 cho hơn 80 cán bộ là thành viên Ban chấp hành công đoàn của 31 Công đoàn cơ sở trực thuộc. Quang cảnh Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác công đoàn ngành Y tế tỉnh  Hội nghị đã triển khai các chuyên đề quan trọng do các báo cáo viên LĐLĐ tỉnh truyền đạt, như: Những cơ hội và thách thức khi Việt Nam phê chuẩn và thực thi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP); Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 04 ngày 9.1.2015 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập; Hướng dẫn về công tác tổ chức đại hội hết nhiệm kỳ; Một số điểm mới trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Luật An toàn Vệ sinh lao động năm 2015. Theo ông Trần Văn Trương – Phó Giám đốc Sở, Chủ tịch Công đoàn ngành Y tế tỉnh Bình Định, cho biết - Hội nghị tập huấn nhằm nâng cao nhận thức, cập nhật kiến thức mới về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Công đoàn trong tình hình mới cho cán bộ làm công tác công đoàn của ngành. Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn, gắn với việc thực hiện Đề án “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng người bệnh” của Bộ Y tế, trong việc khám chữa bệnh nhân dân tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh....


   Hội thao ngành Thuế tỉnh Bình Định lần thứ XIV- năm 2016

    Ngày 10.9, Hội thao ngành Thuế tỉnh Bình Định lần thứ XIV- năm 2016, do Công đoàn ngành Thuế tỉnh phối hợp tổ chức, đã bế mạc và trao giải.   Trận thi đấu chung kết nội dung bóng bàn đôi nam tại Hội thao Hội thao diễn ra từ ngày 8 -10.9, có 188 vận động viên là CB,CNVCLĐ đến từ 12 đơn vị trực thuộc Cục Thuế tỉnh tham gia (trong đó gồm 11 đội các CCT huyện, thị xã, thành phố và đội Văn phòng Cục). Các vận động viên thi đấu gồm 5 môn thể thao (với 19 nội dung): Cầu lông, Bóng đá mini, Bóng bàn, Bi-da và Cờ tướng. Sau 3 ngày thi đấu sôi nổi và hấp dẫn, kết quả: Văn phòng Cục Thuế tỉnh đoạt giải Nhất toàn đoàn, Chi cục thuế (CCT) thành phố Quy Nhơn đạt giải Nhì; CCT huyện Phù Cát đạt giải Ba và CCT huyện Hoài Nhơn đạt giải Khuyến khích. Ngoài ra, Ban tổ chức trao nhiều giải cho từng nội dung thi đấu của hội thao.   Ban tổ chức trao giải toàn đoàn cho các đơn vị đạt thành tích cao của Hội thao  Hội thao nhằm chào mừng kỷ niệm 71 năm ngày thành lập ngành Thuế (10/9/1945-10/9/2016), đồng thời là dịp để CB,CNVCLĐ trong toàn ngành gặp mặt và giao lưu học hỏi kinh nghiệm, rèn luyện sức khỏe và góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2016....


   Hội thi Nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ của tỉnh năm 2016 sẽ tổ chức vào ngày 25/9

    Đây là một trong số các hoạt động sẽ được triển khai thực hiện trong chuỗi các hoạt động kỷ niệm 55 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát Phòng cháy và chữa cháy (04/10/1961-04/10/2016), 15 năm Ngày toàn dân phòng cháy và chữa cháy (04/10/2001-04/10/2016) do UBND tỉnh chỉ đạo. Tại cuộc họp Ban Tổ chức Hội thi Thể thao Nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trên địa bàn tỉnh năm 2016 được tổ chức vào ngày 15/9/2016 vừa qua tại Sở Cảnh sát Phòng cháy và chữa cháy tỉnh Bình Định. Thay mặt cho lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, đồng chí Đại tá Trần Ngọc Thanh - Giám đốc Cảnh sát PCCC  tỉnh - đã báo cáo kết quả tổ chức các hoạt động chào mừng kỷ niệm 55 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát PCCC và 15 năm Ngày toàn dân PCCC trên địa bàn tỉnh và các công tác chuẩn bị cho việc tổ chức Hội thi. Theo đó, Hội thi gồm có 54 đội tuyển của 33 đoàn tham gia gồm các lực lượng của Cảnh sát PCCC tỉnh, lực lượng dân phòng, lực lượng PCCC cơ sở và chuyên ngành. Các đội thi sẽ được chia làm các bảng đấu phù hợp với đặc thù của lực lượng tham gia hội thi...    Lực lượng PCCC đang thi đấu (ảnh minh họa) Sau khi lắng nghe các ý kiến của đại biểu, đồng chí Nguyễn Tuấn Thanh - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Hội thi đã kết luận những vấn đề liên quan đến công tác tổ chức Hội thi và đồng ý thời gian tổ chức Hội thi là vào sáng ngày 25/9 tại Quảng trường Chiến thắng thành phố Quy Nhơn. Được biết, thời gian qua, lực lượng cảnh sát PCCC tỉnh còn tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm khác như giải bóng chuyền gồm 8 đội tham gia, hội diễn văn nghệ của ngành, công tác đền ơn đáp nghĩa và các hoạt động tuyên truyền khác....
  • CÁC CHUYÊN ĐỀ

  • Tuyên giáo

  • Chính sách & Pháp luật

  • Tổ chức

  • Tài chính

  • Kiểm tra

  • Nữ công



   Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nữ công và thực hiện chế độ chính sách CNVCLĐ nữ trong tình hình mới

    Lao động nữ (LĐN) ngày nay đang chiếm lĩnh và giữ vai trò quan trọng trong các lĩnh vực sản xuất, quản lý, khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội. Nắm được vai trò quan trọng của phụ nữ trong xã hội; với sự khác biệt về giới tính, xuất phát từ đặc điểm phụ nữ ngoài việc thực hiện nghĩa vụ lao động còn phải đảm nhận thiên chức làm mẹ, làm vợ, chịu thương, chịu khó nên thực tế LĐN gặp nhiều khó khăn cần phải được hỗ trợ bằng các quy định mang tính chất đặc thù. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta ban hành nhiều chế độ, chính sách quan tâm đến người lao động, trong đó có LĐN. Bộ Luật Lao động Việt Nam, ngoài một số điều quy định chung, đã giành ra Chương X nói về “Những quy định riêng đối với lao động nữ”. Trong đó, quy định về chính sách đối với LĐN, quyền của LĐN và trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với LĐN.  Đ/c Nguyễn Thị Thu Hà và Nguyễn Ngọc Anh – Phó CT LĐLĐ tỉnh (ngoài cùng bên trái và phải) trao Bằng khen và Biểu trưng cho các gia đình đạt danh hiệu “Gia đình CNVCLĐ thành đạt” Nhận thức rõ điều này, công đoàn các cấp, đặc biệt là ban nữ công quần chúng trên địa bàn tỉnh luôn quan tâm, tập trung tham mưu, triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình công tác nữ công, tạo điều kiện để nữ công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ) yên tâm lao động, học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thực hiện tốt quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh đã triển khai Kế hoạch thực hiện Bình đẳng giới giai đoạn 2010-2015 và Kế hoạch thực hiện giai đoạn 2016-2020; Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết 6b ngày 29/01/2011 và Kết luật 147 ngày 4/2/2016 của Ban Chấp hành Tổng LĐLĐ Việt Nam; Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XI Công đoàn Việt Nam và Nghị quyết Đại hội XII Công đoàn tỉnh về “Công tác vận động nữ công nhân viên chức lao động” giai đoạn 2013 - 2018; Hướng dẫn việc đẩy mạnh thực hiện và khen thưởng phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ CNVCLĐ; Kế hoạch triển khai phong trào thi đua xây dựng “Gia đình CNVCLĐ thành đạt” tỉnh Bình Định giai đoạn 2013 - 2018; Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án 343 “Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức Phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”; tổ chức khảo sát tình hình việc làm, đời sống và thực hiện chế độ chính sách LĐN; tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn, tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật lao động tới ngư­­ời lao động. Chỉ đạo các cấp công đoàn tích cực tham gia xây dựng thoả ­­ước lao động tập thể, thuyết phục với chủ doanh nghiệp ký các điều khoản có lợi hơn cho LĐN, cao hơn so với quy định của pháp luật. Nâng cao vai trò đại diện ban nữ công quần chúng đối với LĐN theo quy định. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, Công đoàn; giáo dục, nâng cao nhận thức về giới, gia đình, xã hội, phẩm chất, đạo đức Phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Tổ chức sinh hoạt định kỳ, nghe nói chuyện chuyên đề Bình đẳng giới, kiến thức pháp luật, Dân số-SKSS, tổ chức giao lưu gặp mặt cán bộ nữ công, gia đình CNVCLĐ hạnh phúc, gia đình thành đạt, trao đổi kỹ năng truyền thông nuôi con bằng sữa mẹ, tổ chức khám chuyên khoa cho nữ CNLĐ... đã thu hút đông đảo chị em tham gia. Phối hợp với Đài PTTH tỉnh và huyện xây dựng và phát sóng các phóng sự về việc làm, đời sống và việc thực hiện chế độ chính sách đối với LĐN. Tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”; sơ kết 5 năm thực hiện NQ6b và Chỉ thị 03 của Tổng Liên đoàn; lắp đặt 01 ca bin vắt, trữ sữa tại doanh nghiệp Cổ phần May An nhơn. Song song với việc tuyên truyền, các cấp công đoàn còn tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra việc thực hiện chế độ chính sách đối với LĐN như: tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động và đặc biệt là các chính sách, chế độ riêng đối với phụ nữ khi tham gia lao động. Hàng năm LĐLĐ tỉnh chủ động phối hợp kiểm tra 20 đơn vị, doanh nghiệp có đông LĐN và tổng hợp được nhiều ý kiến, đề nghị các cấp có thẩm quyền và người sử dụng lao động để có biện pháp giải quyết kịp thời, thỏa đáng. Nhờ đó, tiền lương và thu nhập, thời giờ làm việc, chính sách thai sản... của LĐN luôn được đảm bảo, mức sống và điều kiện lao động được cải thiện. Một số doanh nghiệp, ngoài việc thực hiện chế độ với lao động nữ theo quy định, đã trợ cấp thêm cho LĐN khi sinh con hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi; đầu tư xây dựng, trang bị công nghệ mới, từng bước khắc phục các yếu tố độc hại, đảm bảo an toàn trong lao động sản xuất. Các hoạt động chăm lo đời sống tinh thần cho LĐN cũng được quan tâm đúng mức, các cấp công đoàn đã tổ chức nhiều hoạt động VHVN, TDTT như hội thi văn nghệ quần chúng trong nữ CNVCLĐ, hội thi “Cán bộ nữ công tài năng, duyên dáng”, hội thi khéo tay, hội thi “Bước nhảy đẹp”… thu hút đông đảo nữ CNVCLĐ tham gia.  Tuy nhiên, trong thực tế việc thực hiện một số chính sách liên quan tới LĐN có những khó khăn, vẫn còn một số nữ CNLĐ thiếu việc làm hoặc việc làm không ổn định; làm việc trong môi trường bị ô nhiễm, phương tiện trang bị phòng hộ lao động cá nhân thiếu và kém chất lượng, buồng tắm, nhà vệ sinh chưa được đảm bảo; điều kiện sinh hoạt, vui chơi giải trí, nhà ở, phương tiện đi lại của nữ CNLĐ còn nhiều khó khăn, chưa có nhà trẻ, mẫu giáo cho con CNLĐ trong các khu công nghiệp; vẫn còn không ít  nữ CNLĐ chưa được hưởng chế độ BHXH, BHYT, BHTN, chưa được khám sức khỏe (khám phụ khoa) định kỳ, chế độ thai sản chưa được đảm bảo. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nữ công và thực hiện tốt chính sách pháp luật đối với lao động nữ, các cấp công đoàn cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau: - Xác định công tác nữ công là nhiệm vụ của BCH công đoàn mỗi cấp; phải kịp thời củng cố, kiện toàn ban nữ công công đoàn các cấp, nhất là Ban nữ công công đoàn cấp trên cơ sở phải đủ năng lực để làm tốt chức năng tham mưu cho BCH công đoàn về công tác vận động nữ CNVCLĐ. - Coi trọng việc xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động; gắn kết các nội dung, phong trào thi đua của tổ chức công đoàn, tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ đồng cấp để phối hợp chỉ đạo, triển khai và tổ chức thực hiện có hiệu quả. - Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ nữ, đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động, đáp ứng yêu cầu nguyện vọng của đông đảo nữ CNVCLĐ, phù hợp với yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập. - Làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục về chính sách pháp luật, quyền lợi và nghĩa vụ của LĐN tới người lao động, đặc biệt là nâng cao kiến thức pháp luật cho nữ CNLĐ trong các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. - Tiếp tục triển khai, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn, đặc biệt là quan tâm, chăm lo tạo điều kiện cho nữ CNVCLĐ nâng cao hiệu quả đời sống, việc làm để an tâm công tác; kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nữ CNVCLĐ, tư vấn, hướng dẫn LĐN ký hợp đồng lao động đúng quy định; tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh, kỹ năng sống, phòng chống bạo lực gia đình, HIV - AIDS và các tệ nạn xã hội. - Nâng cao vai trò của tổ chức công đoàn trong công tác tham gia quản lý và phối hợp kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách đối với LĐN và có những kiến nghị, đề xuất các cấp có thẩm quyền xử lý nghiêm những trường hợp, tổ chức, đơn vị vi phạm chế độ chính sách LĐN.              ...


   Công đoàn Bình Định 40 năm sau ngày giải phóng (1975 – 2015)

    Trải qua 40 năm (1975-2015), đất nước cũng như tỉnh nhà đã có biết bao biến đổi tích cực, sâu sắc trên tất cả các mặt kinh tế, đời sống xã hội, được trải nghiệm qua thực tiễn cuộc sống và tất yếu không chỉ có thuận lợi mà đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách. Song có thể khẳng định rằng  công nhân lao động và tổ chức Công đoàn tỉnh nhà đã tỏ rõ một lòng một dạ trung thành, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, phấn đấu không ngừng nhằm hoàn thành nhiệm vụ chính trị được Đảng bộ giao phó, xứng đáng với truyền thống cách mạng vẻ vang của giai cấp công nhân Việt Nam. Được thử thách, rèn luyện trong mọi hoàn cảnh, nhất là thời kỳ đổi mới đất nước, phong trào công nhân lao động trong tỉnh phát triển cả chiều rộng và chiều sâu; tổ chức Công đoàn, cán bộ Công đoàn ngày càng được trưởng thành về chất lượng và số lượng. Sau ngày giải phóng năm 1975 toàn tỉnh có 4.339 đòan viên, 2000 có 890 CĐCS với 36.000 đoàn viên đến năm  2015 có 1.509 CĐCS, NĐ với 77.143 đoàn viên.                  Sau ngày giải phóng toàn tỉnh (31/3/1975), các cấp công đoàn khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trước mắt do Tỉnh ủy đề ra, phục vụ kịp thời chiến dịch Hồ Chí Minh.Tháng 10/1975, hợp nhất tỉnh Bình Định và tỉnh Quảng Ngãi thành tỉnh Nghĩa Bình, tổ chức công đoàn cũng được hợp nhất thành Công đoàn tỉnh Nghĩa Bình. Trong thời kỳ này nhiệm vụ trọng tâm là khắc phục hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, khôi phục sản xuất và phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, mà cốt lõi là việc làm, đời sống và dân chủ cho CNLĐ. Vì vậy Công đoàn đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền và các đơn vị chức năng tổ chức sản xuất, tập hợp, vận động CNLĐ thi đua lao động sản xuất và tiết kiệm, đảm bảo hiệu quả kinh tế và đời sống. Từ năm 1976 đến 1986 là thời kỳ cả nước vừa đẩy mạnh sản xuất nhưng đồng thời khẩn trương tiến hành cải tạo XHCN trong nông nghiệp, công thương nghiệp tư bản tư nhân. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, Công đoàn đã kịp thời phân công cán bộ chịu trách nhiệm từng mảng công việc, ra sức bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu vận dụng các loại hình hoạt động công đoàn trong các cơ quan, xí nghiệp. Các phong trào thi đua: “3 cải tiến” trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, “3 điểm cao” trong các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, phong trào xây dựng tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa… được phát động rộng rãi, đạt được nhiều thành quả nhất là đã xây dựng được một số cơ sở vật chất trong ngành thủy lợi, giao thông, đời sống  của cán bộ, viên chức tuy còn nhiều khó khăn nhưng không bị đảo lộn. Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo (tháng 12/1986 đến nay). Các cấp công đoàn đã đầu tư vào việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành các nghị quyết, các đề án, chương trình hành động, kế hoạch thực hiện với bước đi, giải pháp cụ thể, hiệu quả thiết thực; nổi lên là đã chú ý tìm tòi, thử nghiệm việc đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động phù hợp với tình hình mới; rất coi trọng phát triển đoàn viên ra các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, các hoạt động tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao giác ngộ nhận thức chính trị trong đoàn viên, CNLĐ; tổ chức họ vào các phong trào hành động cách mạng, khơi dậy tính tích cực, tự chủ, sáng tạo trong sản xuất và công tác, tìm tạo thêm việc làm để có thu nhập chính đáng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng và an ninh của địa phương. Sau ngày tái lập tỉnh Bình Định (7/1989), Công đoàn tiếp tục vượt qua những thử thách lớn: Với chức năng tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của người lao động, Công đoàn đã quan hệ chặt chẽ với chính quyền cùng cấp bằng qui chế phối hợp tháo gỡ khó khăn, tổ chức lại sản xuất, giải quyết chế độ thoả đáng cho số lao động dôi dư, tạo điều kiện cho họ có cuộc sống tốt hơn. Các phong trào thi đua “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất”, phong trào “giỏi việc nước, đảm việc nhà”; phấn đấu hoàn thành nhiều công trình, sản phẩm mới; phong trào học tập nâng cao trình độ văn hóa, nghiệp vụ, tay nghề; thực hiện cuộc vận động “ trung thành, sáng tạo, tận tụy gương mẫu”, gắn với “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; phong trào đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, xây dựng cơ quan, đơn vị văn hóa, gia đình văn hóa và thực hiện đời sống văn hóa ở khu dân cư... xuất hiện nhiều điển hình tập thể và cá nhân tiêu biểu được biểu khen thưởng góp phần tích cực thúc đẩy nhiệm vụ kinh tế-xã hội của tỉnh phát triển toàn diện. Từ thực tiễn phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn tỉnh 40 năm rút ra một số kinh nghiệm quý báu: 1- Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của công tác công đoàn và phong trào công nhân lao động; quán triệt sâu sắc và vận dụng một cách nhuần nhuyễn các quan điểm, chủ trương của Đảng, kế hoạch của Nhà nước từng thời kỳ mà định ra nhiệm vụ và biện pháp công tác công đoàn một cách sát, đúng, sáng tạo. Thực tiễn cho thấy nơi nào cấp ủy Đảng quan tâm, tăng cường vai trò lãnh đạo của mình đối với tổ chức công đoàn, thì nơi đó hoạt động công đoàn có hiệu quả, phát huy tính chủ động, tích cực trong việc nắm chắc tình hình yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của CNVCLĐ, phản ảnh với các cấp ủy đảng giải quyết kịp thời. 2- Hoạt động của công đoàn thường xuyên nắm vững chức năng vận động CNVCLĐ, làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục, thay mặt CNVC-LĐ tham gia quản lý kinh tế, quản lý nhà nuớc; bảo vệ lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động. Mọi hoạt động của Công đoàn phải xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ, chủ trương của Đảng, yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVC-LĐ, vừa bảo vệ việc làm đúng của chủ doanh nghiệp tạo sự đồng thuận, ổn định và phát triển doanh nghiệp, hóa giải những khó khăn của doanh nghiệp, nhưng đồng thời công đoàn cũng kiên quyết đấu tranh buộc chủ doanh nghiệp thực hiện các yêu cầu đúng đắn của công nhân lao động, có như vậy mới thể hiện được bản lĩnh của công đoàn, mới thu hút được đông đảo CNLĐ tham gia các hoạt động công đoàn. 3- Công đoàn cần đặc biệt coi trọng việc đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động, theo hướng sát cơ sở và người lao động. Xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức đúng với tính chất là tổ chức của giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng, hết sức coi trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng với tình hình mới. 4- Có sự phối hợp, cộng tác, hỗ trợ của các cấp chính quyền và đoàn thể, thực hiện liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Phát huy tiềm lực CNVCLĐ thể hiện vai trò nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và xây dựng nông thôn mới.                                                                        ThS.Nguyễn Ngọc Anh                                                                        Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh  ...


   Vai trò của tổ chức công đoàn trong việc triển khai Luật An toàn, vệ sinh lao động

    Luật An toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua. Mặc dù nội dung ATVSLĐ đã được Đảng và Nhà nước dành sự quan tâm từ rất sớm và được thể hiện trong rất nhiều nghị định của Chính phủ, Bộ Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội nhưng đây là lần đầu tiên Quốc hội thông qua Luật An toàn, vệ sinh lao động với nhiều nội dung mới. Luật ATVSLĐ có 7 chương, 93 điều. Luật quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong đó có quyền và nghĩa vụ trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong việc tổ chức thực hiện. Vai trò của tổ chức công đoàn, công đoàn cấp cơ sở về an toàn, vệ sinh lao động được Luật quy định tập trung ở Điều 9 và Điều 10, cụ thể là: Điều 9. Quyền, trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong công tác an toàn, vệ sinh lao động 1. Tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động về an toàn, vệ sinh lao động. 2. Tham gia, phối hợp với cơ quan nhà nước thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tham gia xây dựng, hướng dẫn thực hiện, giám sát việc thực hiện kế hoạch, quy chế, nội quy và các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cải thiện điều kiện lao động cho người lao động tại nơi làm việc; tham gia điều tra tai nạn lao động theo quy định của pháp luật. 3. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có trách nhiệm thực hiện ngay biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, thực hiện các biện pháp khắc phục, kể cả trường hợp phải tạm ngừng hoạt động khi phát hiện nơi làm việc có yếu tố có hại hoặc yếu tố nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của con người trong quá trình lao động. 4. Vận động người lao động chấp hành quy định, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động. 5. Đại diện tập thể người lao động khởi kiện khi quyền của tập thể người lao động về an toàn, vệ sinh lao động bị xâm phạm; đại diện cho người lao động khởi kiện khi quyền của người lao động về an toàn, vệ sinh lao động bị xâm phạm và được người lao động ủy quyền. 6. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đào tạo, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động; kiến nghị các giải pháp chăm lo cải thiện điều kiện lao động, phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động. 7. Phối hợp với cơ quan nhà nước tổ chức phong trào thi đua về an toàn, vệ sinh lao động; tổ chức phong trào quần chúng làm công tác an toàn, vệ sinh lao động; tổ chức và hướng dẫn hoạt động của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên. 8. Khen thưởng công tác an toàn, vệ sinh lao động theo quy định, của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Điều 10. Quyền, trách nhiệm của công đoàn cơ sở trong công tác an toàn, vệ sinh lao động 1. Tham gia với người sử dụng lao động xây dựng và giám sát việc thực hiện kế hoạch, quy định, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện lao động. 2. Đại diện cho tập thể người lao động thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện điều khoản về an toàn, vệ sinh lao động trong thỏa ước lao động tập thể; có trách nhiệm giúp đỡ người lao động khiếu nại, khởi kiện khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng bị xâm phạm. 3. Đối thoại với người sử dụng lao động để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động về an toàn, vệ sinh lao động. 4. Tham gia, phối hợp với người sử dụng lao động tổ chức kiểm tra công tác an toàn, vệ sinh lao động; giám sát và yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện đúng các quy định về an toàn, vệ sinh lao động; tham gia, phối hợp với người sử dụng lao động điều tra tai nạn lao động và giám sát việc giải quyết chế độ, đào tạo nghề và bố trí công việc cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. 5. Kiến nghị với người sử dụng lao động, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, khắc phục hậu quả sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động, tai nạn lao động và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. 6. Tuyên truyền, vận động người lao động, người sử dụng lao động thực hiện tốt các quy định của pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Phối hợp với người sử dụng lao động tổ chức tập huấn, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho cán bộ công đoàn và người lao động. 7. Yêu cầu người có trách nhiệm thực hiện ngay biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, kể cả trường hợp phải tạm ngừng hoạt động nếu cần thiết khi phát hiện nơi làm việc có nguy cơ gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của người lao động. 8. Tham gia Đoàn điều tra tai nạn lao động cấp cơ sở theo quy định tại khoản 1 Điều 35 của Luật này; tham gia, phối hợp với người sử dụng lao động để ứng cứu, khắc phục hậu quả sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động, tai nạn lao động; trường hợp người sử dụng lao động không thực hiện nghĩa vụ khai báo theo quy định tại Điều 34 của Luật này thì công đoàn cơ sở có trách nhiệm thông báo ngay với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 35 của Luật này để tiến hành điều tra. 9. Phối hợp với người sử dụng lao động tổ chức các phong trào thi đua, phong trào quần chúng làm công tác an toàn, vệ sinh lao động và xây dựng văn hóa an toàn lao động tại nơi làm việc; quản lý, hướng dẫn hoạt động của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên. 10. Những cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa thành lập công đoàn cơ sở thì công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở thực hiện quyền, trách nhiệm quy định tại Điều này khi được người lao động ở đó yêu cầu. * Vậy tổ chức công đoàn cần làm gì để thực hiện tốt Luật An toàn, vệ sinh lao động Để Luật đi vào cuộc sống, ngoài Chính phủ và các cơ quan nhà nước ban hành các nghị định, quyết định, thông tư… triển khai hướng dẫn một số điều khoản thi hành, các đoàn thể, các cấp các ngành vào cuộc… Phạm vi của Công đoàn các cấp cần chủ động tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động rộng rãi đến cán bộ, đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động và nhân dân… nhất là về quyền và nghĩa vụ của tổ chức công đoàn, công đoàn các cấp được pháp luật quy định trong công tác an toàn, vệ sinh lao động, nâng cao nhận thức của cả hệ thống. Công đoàn các cấp nhất là cấp trên (cấp tỉnh, cấp Tổng LĐ) nghiên cứu các quy định của Luật chủ động xây dựng Kế hoạch triển khai, đồng thời tham mưu đề xuất, có chính kiến, tham gia với các cơ quan chức năng quản lý nhà nước ban hành các thông tư, hướng dẫn triển khai luật bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động. Chuẩn bị các điều kiện để các cấp công đoàn nhất là công đoàn cơ sở nhập cuộc khi Luật có hiệu lực thi hành. Xây dựng các chuyên đề, tập huấn, bồi dưỡng cán bộ công đoàn các cấp, đội ngũ an toàn, vệ sinh viên cơ sở nắm vững các quy định pháp luật An toàn, vệ sinh lao động có liên quan đến triển khai tổ chức thực hiện. Tổ chức, vận động cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ tham gia các hoạt động tuyên truyền, các lớp tập huấn… về triển khai thực hiện Luật. Phát động các phong trào thi đua “Xanh - Sạch - Đẹp, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động”, Phòng chống cháy nổ, hưởng ứng Tuần lễ quốc gia an toàn, vệ sinh lao động; tháng hành động về ATVSLĐ được tổ chức vào tháng Năm hàng năm và bắt đầu từ năm 2017; kiểm tra đôn đốc việc tổ chức thực hiện và chăm lo đời sống CNLĐ, sức khỏe, phòng chống bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động; quan tâm đến các trường hợp bị tai nạn lao động, bệnh hiểm nghèo, gặp khó khăn đặc biệt… Thời gian Luật có hiệu lực thi hành đã gần đến, công đoàn các cấp chủ động triển khai khi có hướng dẫn của cấp trên.  Việc làm, đời sống đi liền với an toàn, vệ sinh lao động; quyền, lợi ích, hạnh phúc của người lao động  là có việc làm trong môi trường lao động và môi trường sống an toàn....


   Trường Đại học Tôn Đức Thắng với mục tiêu đào tạo toàn diện cho sinh viên

    Với mục đích đào tạo toàn diện về kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và nhân cách cho sinh viên; đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa và phát triển hội nhập của đất nước trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo. Vào đầu tháng 10/2013, đoàn công tác cán bộ Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Định đã đến thăm và giao lưu với cán bộ, sinh viên trường Đại học Tôn Đức Thắng. Sau khi làm lễ dâng hương tượng đài chủ tịch Tôn Đức Thắng; đoàn đã được hướng dẫn tham quan các cơ sở vật chất của nhà trường; các cán bộ trong đoàn đã thật sự ấn tượng về sự khang trang, quy mô, hiện đại của cơ sở vật chất nhà trường từ giảng đường, thư viện, ký túc xá, bể bơi, sân vận động, nhà thi đấu đa năng, Hội trường đều đạt tiêu chuẩn quốc tế, với sự điều hành, bảo quản và sử dụng hết sức chuyên nghiệp và hiệu quả. Trường Đại học Tôn Đức Thắng được xây dựng với diện tích 11 hecta tại Quận 7 gần Khu đô thị hiện đại Phú Mỹ Hưng. Mỗi phòng học đều có máy chiếu và hệ thống âm thanh đạt chuẩn. Phòng thực hành, mô phỏng được trang bị hiện đại, sinh viên được trực tiếp học và thực hành những phần mềm, thiết bị đang sử dụng tại các doanh nghiệp, các ngân hàng, khách sạn, v.v… Thư viện truyền thống và thư viện điện tử có diện tích 2.778 m2, với 200 máy tính. Sinh viên được ở ký túc xá “5 sao” ngay trong khuôn viên trường. Không gian học tập nhóm rộng rãi, gần gũi với thiên nhiên (vườn cỏ, cây xanh, đồi cảnh quan, dòng kênh xanh tự nhiên giữa khuôn viên trường,…), đặc biệt khuôn viên sân trường luôn xanh – sạch - đẹp. Trường có khu liên hợp thể thao hiện đại: Hồ bơi, sân tennis, nhà thi đấu đa năng (đạt chuẩn quốc tế), sân bóng đá cỏ nhân tạo, sân bóng chuyền, sân bóng rổ. Trường có hội trường sân khấu riêng với hệ thống âm thanh, ánh sáng hiện đại với sức chứa hơn 1.000 chỗ dành cho các hoạt động của sinh viên; có thể nói cơ sở vật chất của Trường Đại học Tôn Đức Thắng không thua kém các trường đại học hàng đầu của Anh quốc, của Singapore.                  Cán bộ LĐLĐ Bình Định giao lưu với sinh viên Bình Định đang học tập tại Đại học Tôn Đức Thắng Nhà giáo ưu tú, Tiến sĩ Lê Vinh Danh – Hiệu trưởng Trường Đại học Tôn Đức Thắng cho biết: cơ sở vật chất của trường đạt tiêu chuẩn quốc tế là nhờ sự quan tâm của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, sự tâm huyết, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và luôn khát vọng đổi mới của toàn thể cán bộ, giáo viên, học sinh nhà trường. Một hình ảnh đẹp và chuyên nghiệp, hiện đại thường bắt gặp ở Trường Đại học Tôn Đức Thắng là học sinh xếp hàng ngay ngắn, trật tự khi vào học, khi đi cầu thang máy, khi đi rút tiền ở ATM, khi ở nhà ăn, không bao giờ vứt rác xuống sân trường, v.v… đã thể hiện ý thức kỷ luật, nếp sống văn hóa và văn minh hiện đại của sinh viên nhà trường. Trường Đại học Tôn Đức Thắng hiện đang đào tạo 30 ngành đại học, 8 ngành cao đẳng, 17 ngành trung cấp chuyên nghiệp, các hệ liên thông đại học, hệ đào tạo sau đại học; trường có những chuyên ngành đặc biệt như: Quan hệ lao động, Bảo hộ lao động là những chuyên ngành đang rất cần nhân sự ở các doanh nghiệp; đồng thời đào tạo nguồn nhân lực để bổ sung cho đội ngũ cán bộ công đoàn ở các địa phương. Trường có  cơ sở chính tại quận 7 thành phố Hồ Chí Minh và các cơ sở tại: Nha Trang, Cà Mau, Bảo Lộc.                  Đ/c Huỳnh Thanh Xuân – Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Bình Định phát biểu trong buổi giao lưu với sinh viên Trong buổi giao lưu đầy tình cảm, xúc động giữa các cán bộ Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Định với sinh viên quê Bình Định đang học tập tại trường Tôn Đức Thắng; các sinh viên thật sự xúc động khi được nghe đồng chí Huỳnh Thanh Xuân – Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Bình Định báo cáo về sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh nhà; những dự án lớn đang và sẽ được đầu tư ở tỉnh Bình Định như Dự án Khu du lịch Hải Giang, Dự án Nhà máy lọc hóa dầu do Thái Lan đầu tư tại khu kinh tế Nhơn Hội; các chính sách ưu tiên thu hút nguồn nhân lực của tỉnh; các bạn sinh viên cũng đã có nhiều ý kiến trao đổi thẳng thắn về nhu cầu việc làm sau khi tốt nghiệp ra trường để có thể về công tác ở quê hương Bình Định. Cũng trong dịp này, Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Định đã tặng quà cho các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vươn lên học giỏi. Trong thời gian đến, Trường Đại học Tôn Đức Thắng tiếp tục thực hiện có hiệu quả mục tiêu đổi mới công tác giáo dục, nhằm mục đích đào tạo toàn diện về kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và nhân cách cho sinh viên nhà trường. Thực hiện các chiến lược phát triển và hội nhập quốc tế, đặc biệt với các quốc gia Châu Âu trong lĩnh vực đào tạo, quốc tế hóa chương trình đào tạo, hợp tác nghiên cứu khoa học và công nghệ, nâng cao hình ảnh, thương hiệu của Trường trong cộng đồng khoa học quốc tế, góp phần vào sự nghiệp đổi mới, phát triển giáo dục nước nhà; phấn đấu thực hiện thành công chiến lược của nhà trường là xây dựng Trường Đại học Tôn Đức Thắng trở thành một trong những trường hàng đầu khu vực Châu Á và quốc tế trong tương lai.                                                                                                                Tạ Lân ...


   Công tác tài chính công đoàn ưu tiên dành cho hoạt động cơ sở

    Từ thực tế công tác quản lý ngân sách công đoàn ở các cấp công đoàn; có nhiều ý kiến xung quanh vấn đề Thu chi kinh phí công đoàn; đặc biệt là vấn đề ưu tiên dành kinh phí công đoàn cho hoạt động phong trào ở cơ sở. Thời gian qua, nguồn thu Ngân sách Công đoàn tương đối ổn định. Thu kinh phí Công đoàn khu vực Hành chính sự nghiệp và Doanh nghiệp Nhà nước chiếm tỉ trọng chủ yếu trong cơ cấu thu kinh phí Công đoàn, khoảng 80%. Tuy nhiên, theo đánh giá của Ban Tài chính Tổng Liên đoàn thì thu kinh phí Công đoàn vẫn còn thất thu lớn. Kinh phí Công đoàn khu vực ngoài Nhà nước chiếm tỉ trọng nhỏ, khoảng 20% trong cơ cấu thu Ngân sách Công đoàn. Ban Tài chính Tổng Liên đoàn đã tích cực hướng dẫn các cấp Công đoàn thu đoàn phí Công đoàn theo Điều lệ Đại hội X Công đoàn Việt Nam đã thông qua; hướng dẫn sử dụng ngân sách Công đoàn mua cổ phần, cổ phiếu,v.v…   Một trong những nguyên nhân thất thu kinh phí Công đoàn trong thời qua, chủ yếu là do cơ chế thu kinh phí Công đoàn hiệu lực pháp lý thấp, quy định mức trích nộp kinh phí Công đoàn tại thông tư liên tịch không có chế tài xử phạt đối với các đơn vị không trích nộp, hoặc trích nộp không đầy đủ kinh phí Công đoàn.Tương tự như vậy, nguồn thu đoàn phí Công đoàn cũng rơi vào tình trạng thất thu, nhất là ở các Công đoàn cơ sở doanh nghiệp ngoài Nhà nước. Nhiều Công đoàn cơ sở khu vực này mới thành lập, công tác tuyên truyền của tổ chức Công đoàn và ý thức đoàn viên còn hạn chế. Song, thực tế cho thấy nguyên nhân chính là do Công đoàn cơ sở thu đoàn phí của đoàn viên theo mức ấn định bình quân 1 đoàn viên từ 3.000đ-5.000đ/tháng, chưa thực hiện theo đúng hướng dẫn của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Năm 2008, Nghị quyết Trung ương 6 ra đời đã đề cập đến việc trích nộp kinh phí Công đoàn của các Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Đây chính là một trong những thuận lợi cơ bản có tác động tới công tác tài chính Công đoàn. Nhưng thẳng thắn nhìn nhận thì thực trạng trích nộp kinh phí Công đoàn chưa được cải thiện vì chính sự chậm trễ của một số Bộ, ngành có liên quan trong việc triển khai thực hiện ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc với Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn tháng 3-2007 về thu kinh phí Công đoàn của các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thời gian qua, các cấp Công đoàn luôn quan tâm dành kinh phí cho hoạt động phong trào, lên tới khoảng 60%, đặc biệt là chi cho công tác tuyên truyền giáo dục, tổ chức phong trào thi đua, khen thưởng, các hoạt động xã hội, phát triển đoàn viên và thành lập Công đoàn cơ sở. Tuy nhiên trong đó, kinh phí chi cho công tác đào tạo cán bộ Công đoàn còn hạn chế, mới chỉ chiếm khoảng 1,6%. Đáng nói là chi hành chính Công đoàn còn chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu chi ngân sách Công đoàn đến mức 22%, bao gồm cả các khoản chi khác. Nhiều đơn vị chi phí tiếp khách trong chi hành chính còn cao.Công tác quản lý Ngân sách Công đoàn đã được các cấp Công đoàn chú trọng quan tâm thực hiện tốt. Thực hiện Chỉ thị 01/CT của Tổng Liên đoàn về tăng cường công tác quản lý Ngân sách Công đoàn, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Ngân sách Công đoàn, các cấp Công đoàn đã có bước chuyển biến tích cực trong sử dụng có hiệu quả nguồn Ngân sách Công đoàn. Một số Liên đoàn lao động tỉnh đã tiến hành giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan Liên đoàn Lao động theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP của Chính phủ. Trong việc thực hiện cơ chế phân phối tài chính Công đoàn theo Quyết định 699/QĐ-TLĐ còn bộc lộ một số nhược điểm. Quy định phân phối chỉ dựa vào chỉ tiêu Lao động là không phù hợp, do nguồn thu còn dựa vào tiền lương, thu nhập, điều kiện Kinh tế-Xã hội của từng vùng. Số lao động theo báo cáo dự toán và quyết toán là số liệu thống kê nên chưa chính xác, cấp hỗ trợ kinh phí dựa trên số thu, không khống chế mức cấp hỗ trợ tối đa là không hợp lý, tạo tư tưởng bao cấp, ỷ lại cho một số đơn vị. Quy định thưởng đơn vị thu vượt kế hoạch tại Quyết định này cũng dẫn đến tình trạng có những đơn vị xây dựng kế hoạch thấp để giảm nộp, duyệt kế hoạch Ngân sách hàng năm thấp, không sát thực tế. Thực hiện tốt những quy định về công tác Tài chính Công đoàn theo Điều lệ Đại hội X Công đoàn Việt Nam đã thông qua sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động Công đoàn, kinh phí Công đoàn phải đặc biệt ưu tiên dành cho hoạt động của cơ sở. Hoạt động Tài chính Công đoàn cần quan tâm đối với những hoạt động phong trào quan trọng của tổ chức Công đoàn, góp phần xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá theo Nghị quyết Trung ương 6 đã đề ra. Tạ Lân...


   Một số kết quả hoạt động kiểm tra của các cấp công đoàn trong 6 tháng đầu năm 2013

    Trong những tháng đầu năm 2013 Ban Chấp hành, Ban thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh đã tập trung chỉ đạo hoạt động của ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp trong tỉnh đạt được các kết quả sau. Thực hiện kiểm tra việc chấp hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam. Năm 2013 là năm đầu tiên các cấp công đoàn trong tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội XII Công đoàn Bình Định và nghị quyết đại hội cấp mình. Hoạt động của ủy ban kiểm tra công đoàn tỉnh chủ yếu tập trung vào kiểm tra cấp cơ sở thực hiện triển khai Nghị quyết Công đoàn và việc phổ biến, triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các quy định của Tổng Liên đoàn. Trong 6 tháng đầu năm 2013 ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã thực hiện được 128 cuộc kiểm tra, trong đó có 58 cuộc kiểm tra ở cùng cấp và 70 cuộc kiểm tra cấp dưới. Qua kiểm tra cho thấy; về cơ bản ban chấp hành, ban thường vụ công đoàn các cấp chấp hành tốt các quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam; đã phát huy vai trò, chức năng của công đoàn, hoạt động có bước chuyển biến mới, hướng về cơ sở, vì quyền lợi của đoàn viên và người lao động; đại diện ký kết thỏa ước lao động tập thể; tham gia tích cực với cơ quan nhà nước và người sử dụng lao động để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động; tổ chức tốt công tác tuyên truyền giáo dục, thường xuyên đưa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các chủ trương của Tổng Liên đoàn đến với công nhân, viên chức và người lao động. Chú trọng công tác bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ công đoàn ở cơ sở nhằm nâng cao chất lượng hoạt động; đẩy mạnh các hoạt động xã hội từ thiện để giúp đỡ đoàn viên, công nhân lao động gặp khó khăn, hoạn nạn. Thực hiện kiểm tra công đoàn cùng cấp và cấp dưới khi tổ chức hoặc đoàn viên có dấu hiệu vi phạm Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của công đoàn. Trong 6 tháng đầu năm, ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã thực hiện 28 cuộc kiểm tra đối với tổ chức, cán bộ, đoàn viên ở cùng cấp và 20 cuộc đối với tổ chức, cán bộ, đoàn viên ở cấp dưới. Những vi phạm phổ biến tập trung ở việc thực hiện chế độ sinh hoạt, hội họp công đoàn; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo chưa kịp thời, đầy đủ; sổ sách, tài liệu quản lý chưa khoa học. Ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã kịp thời chấn chỉnh, kiến nghị biện pháp khắc phục, sửa chữa trong việc thực hiện Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của công đoàn. Thực hiện Kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản và hoạt động kinh tế của công đoàn. Ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã tiến hành được 170 cuộc, trong đó đồng cấp 116 cuộc và 54 cuộc kiểm tra cấp dưới. Ủy ban Kiểm tra Liên đoàn Lao động tỉnh thực hiện kiểm tra 14 cuộc đối với công đoàn cấp trên cơ sở cho thấy công đoàn các cấp đã tập trung kinh phí tổ chức các phong trào có hiệu quả; chứng từ, sổ sách kế toán đầy đủ, thực hiện các khoản chi đúng quy định của Nhà nước và Tổng Liên đoàn. Công tác quản lý tài chính, tài sản chặt chẽ, sử dụng ngân sách công đoàn ngày càng hiệu quả. Ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tài chính, tài sản công đoàn; lựa chọn nội dung, phương pháp kiểm tra phù hợp với điều kiện thực tế của từng đơn vị. Giải quyết và tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo. Ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã thực hiện tốt công tác tiếp đoàn viên, cán bộ, công chức, viên chức, lao động; tiếp nhận đơn thư, giải quyết và tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo theo đúng trình tự quy định. Công tác tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cán bộ kiểm tra. Ủy ban Kiểm tra Liên đoàn Lao động tỉnh đã chỉ đạo ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp tổ chức tập huấn, bồi dưỡng về nghiệp vụ kiểm tra cho cán bộ làm công tác kiểm tra của nhiệm kỳ mới và biên soạn bài giảng công tác kiểm tra giúp cho công đoàn các cấp có tài liệu phục vụ tập huấn ở cấp mình. Trong 6 tháng đầu năm, công đoàn các cấp đã tập huấn nghiệp vụ cho 563 cán bộ ủy ban kiểm tra. Thông qua công tác kiểm tra, ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã có nhiều kiến nghị đề xuất với ban chấp hành, ban thường vụ công đoàn cùng cấp và cấp trên kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những thiếu sót tồn tại trong công tác tổ chức, triển khai các hoạt động, quản lý, điều hành và thực hiện chức năng nhiệm vụ công đoàn ở các cấp. Đồng thời ban chấp hành công đoàn các cấp phải tăng cường quan tâm hơn nữa trong công tác chỉ đạo hoạt động ủy ban kiểm tra cùng cấp và cấp dưới trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch công tác tháng, quý và cả năm để chủ động trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ; tăng cường tổ chức kiểm tra đồng cấp và cấp dưới về chấp hành Điều lệ công đoàn; kiểm tra về quản lý tài chính – tài sản và hoạt động kinh tế công đoàn; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác kiểm tra; thực hiện công tác thông tin, báo cáo. Góp phần nâng cao chất lượng hoạt động và xây dựng tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh, nhằm thực hiện có hiệu quả nghị quyết đại hội công đoàn các cấp và Nghị quyết Đại hội XII Công đoàn tỉnh, nhiệm kỳ 2013 – 2018.                                                                                  Nguyễn Mạnh Hùng                                                                              Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh ...


   Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nữ công và thực hiện chế độ chính sách CNVCLĐ nữ trong tình hình mới

    Lao động nữ (LĐN) ngày nay đang chiếm lĩnh và giữ vai trò quan trọng trong các lĩnh vực sản xuất, quản lý, khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội. Nắm được vai trò quan trọng của phụ nữ trong xã hội; với sự khác biệt về giới tính, xuất phát từ đặc điểm phụ nữ ngoài việc thực hiện nghĩa vụ lao động còn phải đảm nhận thiên chức làm mẹ, làm vợ, chịu thương, chịu khó nên thực tế LĐN gặp nhiều khó khăn cần phải được hỗ trợ bằng các quy định mang tính chất đặc thù. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta ban hành nhiều chế độ, chính sách quan tâm đến người lao động, trong đó có LĐN. Bộ Luật Lao động Việt Nam, ngoài một số điều quy định chung, đã giành ra Chương X nói về “Những quy định riêng đối với lao động nữ”. Trong đó, quy định về chính sách đối với LĐN, quyền của LĐN và trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với LĐN.  Đ/c Nguyễn Thị Thu Hà và Nguyễn Ngọc Anh – Phó CT LĐLĐ tỉnh (ngoài cùng bên trái và phải) trao Bằng khen và Biểu trưng cho các gia đình đạt danh hiệu “Gia đình CNVCLĐ thành đạt” Nhận thức rõ điều này, công đoàn các cấp, đặc biệt là ban nữ công quần chúng trên địa bàn tỉnh luôn quan tâm, tập trung tham mưu, triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình công tác nữ công, tạo điều kiện để nữ công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ) yên tâm lao động, học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thực hiện tốt quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh đã triển khai Kế hoạch thực hiện Bình đẳng giới giai đoạn 2010-2015 và Kế hoạch thực hiện giai đoạn 2016-2020; Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết 6b ngày 29/01/2011 và Kết luật 147 ngày 4/2/2016 của Ban Chấp hành Tổng LĐLĐ Việt Nam; Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XI Công đoàn Việt Nam và Nghị quyết Đại hội XII Công đoàn tỉnh về “Công tác vận động nữ công nhân viên chức lao động” giai đoạn 2013 - 2018; Hướng dẫn việc đẩy mạnh thực hiện và khen thưởng phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ CNVCLĐ; Kế hoạch triển khai phong trào thi đua xây dựng “Gia đình CNVCLĐ thành đạt” tỉnh Bình Định giai đoạn 2013 - 2018; Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án 343 “Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức Phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”; tổ chức khảo sát tình hình việc làm, đời sống và thực hiện chế độ chính sách LĐN; tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn, tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật lao động tới ngư­­ời lao động. Chỉ đạo các cấp công đoàn tích cực tham gia xây dựng thoả ­­ước lao động tập thể, thuyết phục với chủ doanh nghiệp ký các điều khoản có lợi hơn cho LĐN, cao hơn so với quy định của pháp luật. Nâng cao vai trò đại diện ban nữ công quần chúng đối với LĐN theo quy định. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, Công đoàn; giáo dục, nâng cao nhận thức về giới, gia đình, xã hội, phẩm chất, đạo đức Phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Tổ chức sinh hoạt định kỳ, nghe nói chuyện chuyên đề Bình đẳng giới, kiến thức pháp luật, Dân số-SKSS, tổ chức giao lưu gặp mặt cán bộ nữ công, gia đình CNVCLĐ hạnh phúc, gia đình thành đạt, trao đổi kỹ năng truyền thông nuôi con bằng sữa mẹ, tổ chức khám chuyên khoa cho nữ CNLĐ... đã thu hút đông đảo chị em tham gia. Phối hợp với Đài PTTH tỉnh và huyện xây dựng và phát sóng các phóng sự về việc làm, đời sống và việc thực hiện chế độ chính sách đối với LĐN. Tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”; sơ kết 5 năm thực hiện NQ6b và Chỉ thị 03 của Tổng Liên đoàn; lắp đặt 01 ca bin vắt, trữ sữa tại doanh nghiệp Cổ phần May An nhơn. Song song với việc tuyên truyền, các cấp công đoàn còn tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra việc thực hiện chế độ chính sách đối với LĐN như: tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động và đặc biệt là các chính sách, chế độ riêng đối với phụ nữ khi tham gia lao động. Hàng năm LĐLĐ tỉnh chủ động phối hợp kiểm tra 20 đơn vị, doanh nghiệp có đông LĐN và tổng hợp được nhiều ý kiến, đề nghị các cấp có thẩm quyền và người sử dụng lao động để có biện pháp giải quyết kịp thời, thỏa đáng. Nhờ đó, tiền lương và thu nhập, thời giờ làm việc, chính sách thai sản... của LĐN luôn được đảm bảo, mức sống và điều kiện lao động được cải thiện. Một số doanh nghiệp, ngoài việc thực hiện chế độ với lao động nữ theo quy định, đã trợ cấp thêm cho LĐN khi sinh con hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi; đầu tư xây dựng, trang bị công nghệ mới, từng bước khắc phục các yếu tố độc hại, đảm bảo an toàn trong lao động sản xuất. Các hoạt động chăm lo đời sống tinh thần cho LĐN cũng được quan tâm đúng mức, các cấp công đoàn đã tổ chức nhiều hoạt động VHVN, TDTT như hội thi văn nghệ quần chúng trong nữ CNVCLĐ, hội thi “Cán bộ nữ công tài năng, duyên dáng”, hội thi khéo tay, hội thi “Bước nhảy đẹp”… thu hút đông đảo nữ CNVCLĐ tham gia.  Tuy nhiên, trong thực tế việc thực hiện một số chính sách liên quan tới LĐN có những khó khăn, vẫn còn một số nữ CNLĐ thiếu việc làm hoặc việc làm không ổn định; làm việc trong môi trường bị ô nhiễm, phương tiện trang bị phòng hộ lao động cá nhân thiếu và kém chất lượng, buồng tắm, nhà vệ sinh chưa được đảm bảo; điều kiện sinh hoạt, vui chơi giải trí, nhà ở, phương tiện đi lại của nữ CNLĐ còn nhiều khó khăn, chưa có nhà trẻ, mẫu giáo cho con CNLĐ trong các khu công nghiệp; vẫn còn không ít  nữ CNLĐ chưa được hưởng chế độ BHXH, BHYT, BHTN, chưa được khám sức khỏe (khám phụ khoa) định kỳ, chế độ thai sản chưa được đảm bảo. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nữ công và thực hiện tốt chính sách pháp luật đối với lao động nữ, các cấp công đoàn cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau: - Xác định công tác nữ công là nhiệm vụ của BCH công đoàn mỗi cấp; phải kịp thời củng cố, kiện toàn ban nữ công công đoàn các cấp, nhất là Ban nữ công công đoàn cấp trên cơ sở phải đủ năng lực để làm tốt chức năng tham mưu cho BCH công đoàn về công tác vận động nữ CNVCLĐ. - Coi trọng việc xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động; gắn kết các nội dung, phong trào thi đua của tổ chức công đoàn, tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ đồng cấp để phối hợp chỉ đạo, triển khai và tổ chức thực hiện có hiệu quả. - Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ nữ, đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động, đáp ứng yêu cầu nguyện vọng của đông đảo nữ CNVCLĐ, phù hợp với yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập. - Làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục về chính sách pháp luật, quyền lợi và nghĩa vụ của LĐN tới người lao động, đặc biệt là nâng cao kiến thức pháp luật cho nữ CNLĐ trong các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. - Tiếp tục triển khai, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn, đặc biệt là quan tâm, chăm lo tạo điều kiện cho nữ CNVCLĐ nâng cao hiệu quả đời sống, việc làm để an tâm công tác; kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nữ CNVCLĐ, tư vấn, hướng dẫn LĐN ký hợp đồng lao động đúng quy định; tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh, kỹ năng sống, phòng chống bạo lực gia đình, HIV - AIDS và các tệ nạn xã hội. - Nâng cao vai trò của tổ chức công đoàn trong công tác tham gia quản lý và phối hợp kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách đối với LĐN và có những kiến nghị, đề xuất các cấp có thẩm quyền xử lý nghiêm những trường hợp, tổ chức, đơn vị vi phạm chế độ chính sách LĐN.              ...
  • VĂN BẢN MỚI

  • Nhà nước

  • Tổng LĐLĐ

  • LĐLĐ tỉnh



   Chỉ thị của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Văn bản số: 05-CT/TW | Ban hành ngày: 2016-05-15
    Chỉ thị của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh


   Hướng dẫn công đoàn khởi kiện, tham gia tố tụng dân sự giải quyết các vụ án tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động tập thể

Văn bản số: 995/HD-TLĐ | Ban hành ngày: 2016-06-30
    Hướng dẫn công đoàn khởi kiện, tham gia tố tụng dân sự giải quyết các vụ án tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động tập thể
  • TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM

  • Công tác công đoàn

  • Lĩnh vực khác



   Hướng dẫn hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động

    Ngày 15/5/2016, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành Nghị định số 44/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật an toàn, vệ sinh lao động về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và quan trắc môi trường lao động. Theo Nghị định này, công tác huấn luyện an toàn lao động có nhiều điểm mới so với Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH như sau: 1. Về đối tượng được huấn luyện an toàn lao động Trong Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH có 4 nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động. Tuy nhiên, trong Nghị định số 44 có tới 6 nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động. 2 nhóm đối tượng mới bao gồm nhóm 5: người làm công tác y tế và nhóm 6: an toàn, vệ sinh viên theo điều 74 Luật an toàn, vệ sinh lao động.  Nhóm 1: Người quản lý phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: a) Người đứng đầu đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh và phòng, ban, chi nhánh trực thuộc; phụ trách bộ phận sản xuất, kinh doanh, kỹ thuật; quản đốc phân xưởng hoặc tương đương; b) Cấp phó của người đứng đầu theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này được giao nhiệm vụ phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động.  Nhóm 2: Người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: a) Chuyên trách, bán chuyên trách về an toàn, vệ sinh lao động của cơ sở; b) Người trực tiếp giám sát về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Nhóm 3: Người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động là người làm công việc thuộc Danh mục công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành. Nhóm 4: Người lao động không thuộc các nhóm theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều này, bao gồm cả người học nghề, tập nghề, thử việc để làm việc cho người sử dụng lao động. Nhóm 5: Người làm công tác y tế.  Nhóm 6: An toàn, vệ sinh viên theo quy định tại Điều 74 Luật an toàn, vệ sinh lao động. 2. Về nội dung huấn luyện Trong Nghị định số 44, nội dung huấn luyện an toàn lao động cho các nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động được quy định chặt chẽ hơn, chi tiết hơn so với Thông tư số 27/2013/TT-BLĐTBXH.  Huấn luyện nhóm 1 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh. Huấn luyện nhóm 2 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; xây dựng nội quy, quy chế, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; xây dựng, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch an toàn, vệ sinh lao động hằng năm; phân tích, đánh giá rủi ro và xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp; xây dựng hệ thống quản lý về an toàn, vệ sinh lao động; nghiệp vụ công tác tự kiểm tra; công tác điều tra tai nạn lao động; những yêu cầu của công tác kiểm định, huấn luyện và quan trắc môi trường lao động; quản lý máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; hoạt động thông tin, tuyên truyền, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động; sơ cấp cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp cho người lao động; công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật, thống kê, báo cáo công tác an toàn, vệ sinh lao động; c) Nội dung huấn luyện chuyên ngành: Kiến thức tổng hợp về máy, thiết bị, vật tư, chất phát sinh yếu tố nguy hiểm, có hại; quy trình làm việc an toàn với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động.  Huấn luyện nhóm 3 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động: Chính sách, chế độ về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và phương pháp cải thiện điều kiện lao động; chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; nội quy an toàn, vệ sinh lao động, biển báo, biển chỉ dẫn an toàn, vệ sinh lao động và sử dụng thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân; nghiệp vụ, kỹ năng sơ cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp; c) Nội dung huấn luyện chuyên ngành: Kiến thức tổng hợp về máy, thiết bị, vật tư, chất phát sinh các yếu tố nguy hiểm, có hại và phương pháp phân tích, đánh giá, quản lý rủi ro liên quan đến công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động mà người được huấn luyện đang làm; quy trình làm việc an toàn, vệ sinh lao động; kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động liên quan đến công việc của người lao động.  Huấn luyện nhóm 4 a) Kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động: Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động, người lao động; chính sách, chế độ về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và phương pháp cải thiện điều kiện lao động; chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; nội quy an toàn, vệ sinh lao động, biển báo, biển chỉ dẫn an toàn, vệ sinh lao động và sử dụng các thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân, nghiệp vụ, kỹ năng sơ cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp. b) Huấn luyện trực tiếp tại nơi làm việc: Quy trình làm việc và yêu cầu cụ thể về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.  Huấn luyện nhóm 5 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; c) Huấn luyện cấp Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động: Yếu tố có hại tại nơi làm việc; tổ chức quan trắc môi trường lao động để đánh giá yếu tố có hại; lập hồ sơ vệ sinh lao động tại nơi làm việc; các bệnh nghề nghiệp thường gặp và biện pháp phòng chống; cách tổ chức khám bệnh nghề nghiệp, khám bố trí việc làm, chuẩn bị hồ sơ giám định bệnh nghề nghiệp; tổ chức và kỹ năng sơ cứu, cấp cứu; phòng chống dịch bệnh tại nơi làm việc; an toàn thực phẩm; quy trình lấy và lưu mẫu thực phẩm; tổ chức thực hiện bồi dưỡng hiện vật và dinh dưỡng cho người lao động; nâng cao sức khỏe nơi làm việc, phòng chống bệnh không lây nhiễm tại nơi làm việc; kiến thức, kỹ năng, phương pháp xây dựng kế hoạch, phương án, trang bị phương tiện và điều kiện cần thiết để thực hiện công tác vệ sinh lao động; phương pháp truyền thông giáo dục về vệ sinh lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp; lập và quản lý thông tin về vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp tại nơi làm việc; lập và quản lý hồ sơ sức khỏe người lao động, hồ sơ sức khỏe của người bị bệnh nghề nghiệp. Công tác phối hợp với người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động hoặc bộ phận quản lý công tác an toàn, vệ sinh lao động để thực hiện nhiệm vụ liên quan theo quy định tại Điều 72 Luật an toàn, vệ sinh lao động. Huấn luyện nhóm 6 Người lao động tham gia mạng lưới an toàn, vệ sinh viên ngoài nội dung huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động theo quy định còn được huấn luyện bổ sung về kỹ năng và phương pháp hoạt động của an toàn, vệ sinh viên. 3. Về thời gian huấn luyện an toàn lao động Giống thông tư số 27, thời gian huấn luyện an toàn lao động theo quy định cho nhóm 1 và 4 vẫn giữ nguyên, tối thiểu 16 tiếng; nhóm 2 tối thiểu 48 tiếng. Tuy nhiên với nhóm 3, thời gian huấn luyện tối thiểu đã giảm từ 30 tiếng xuống 24 tiếng. Đặc biệt, nghị định số 44 có quy định thời gian huấn luyện tối thiểu với nhóm 5 và 6 lần lượt là 56 tiếng và 4 tiếng. 4. Về giấy chứng nhận, chứng chỉ an toàn lao động Theo quy định trong Thông tư số 27: – Nhóm 1 sẽ được cấp Chứng nhận huấn luyện (thời hạn 2 năm) – Nhóm 2, 3 là Chứng chỉ huấn luyện (thời hạn 5 năm) – Nhóm 4 sẽ được ghi kết quả huấn luyện vào sổ theo dõi công tác huấn luyện tại cơ sở. Tuy nhiên với Nghị định số 44, ngoài nhóm 4 được giữ nguyên, các nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động đều có thay đổi: – Sau khi hoàn thành khóa học và thông qua kiểm tra, sát hạch, nhóm 1, 2, 5, 6 đều được nhận Chứng nhận huấn luyện an toàn lao động với thời hạn 2 năm. – Với nhóm 3 những người lao động thường xuyên làm việc trong môi trường có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động sẽ được cấp thẻ an toàn lao động có thời hạn 2 năm. – Với nhóm 5, ngoài Chứng nhận huấn luyện an toàn lao động còn được cấp Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động(thời hạn 5 năm). Nội dung hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động được quy định trong Chương 3 của Nghị định. Chương này gồm 16 điều (điều 17 đến điều 32) chia làm 5 mục. Mục 1. Đối tương, nội dung và yêu cầu chung trong hoạt động huấn luyện.Gồm 5 điều (từ điều 17 đến điều 21) quy định đối tượng tham dự khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, nội dung huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, thời gian huấn luyện, chương trình khung và chương trình, tài liệu huấn luyện, huấn luyện, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng về an toàn, vệ sinh lao động và huấn luyện định kỳ. Mục 2. Người huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.Gồm 2 điều (điều 22, điều 23) quy định tiêu chuẩn người huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, xác định thời gian đã làm việc hoặc thời gian đã làm công việc huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động. Mục 3. Giấy chứng nhận huấn luyện, thẻ an toàn và chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động.Gồm 2 điều (điều 24, điều 25) quy định quản lý việc cấp Giấy chứng nhận huấn luyện, Thẻ an toàn, và Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động, thời hạn cấp, cấp mới Giấy chứng nhận huấn luyện, Thẻ an toàn, Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động. Mục 4. Tổ chức huấn luyện, doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.Gồm 6 điều (điều 26 đến điều 31) quy định phân loại tổ chức huấn luyện và điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động, thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động của Tổ chức huấn luyện, hồ sơ, thủ tục cấp mới, cấp lại, gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động của Tổ chức huấn luyện, công nhận cơ sở y tế đủ điều kiện huấn luyện cấp chứng chỉ chứng nhận về y tế lao động, doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, mẫu, thời hạn cấp mới, cấp lại, gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động. Mục 5. Huấn luyện cho người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động, quy định chi tiết hỗ trợ huấn luyện người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động. Theo đó đối tượng được ưu tiên hỗ trợ chi phí huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động là người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng và thân nhân chủ yếu của người có công với cách mạng làm việc không theo hợp đồng lao động khi làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động. Về nguyên tắc hỗ trợ được quy định: - Hỗ trợ chi phí huấn luyện 01 lần đối với 01 công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; - Tham gia đầy đủ chương trình huấn luyện và sát hạch đạt yêu cầu, được cấp Thẻ an toàn; - Hỗ trợ trực tiếp cho người lao động hoặc thông qua Tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động. Cũng theo quy định này mức hỗ trợ theo chi phí thực tế của khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động nhưng không quá 50% mức lương cơ sở/người/khóa huấn luyện theo quy định của Chính phủ tại thời điểm huấn luyện. Nguồn kinh phí hỗ trợ được bố trí trong dự toán chi thường xuyên của cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành. ...


   Hướng dẫn hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động

    Ngày 15/5/2016, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành Nghị định số 44/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật an toàn, vệ sinh lao động về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và quan trắc môi trường lao động. Theo Nghị định này, công tác huấn luyện an toàn lao động có nhiều điểm mới so với Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH như sau: 1. Về đối tượng được huấn luyện an toàn lao động Trong Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH có 4 nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động. Tuy nhiên, trong Nghị định số 44 có tới 6 nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động. 2 nhóm đối tượng mới bao gồm nhóm 5: người làm công tác y tế và nhóm 6: an toàn, vệ sinh viên theo điều 74 Luật an toàn, vệ sinh lao động.  Nhóm 1: Người quản lý phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: a) Người đứng đầu đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh và phòng, ban, chi nhánh trực thuộc; phụ trách bộ phận sản xuất, kinh doanh, kỹ thuật; quản đốc phân xưởng hoặc tương đương; b) Cấp phó của người đứng đầu theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này được giao nhiệm vụ phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động.  Nhóm 2: Người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: a) Chuyên trách, bán chuyên trách về an toàn, vệ sinh lao động của cơ sở; b) Người trực tiếp giám sát về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Nhóm 3: Người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động là người làm công việc thuộc Danh mục công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành. Nhóm 4: Người lao động không thuộc các nhóm theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều này, bao gồm cả người học nghề, tập nghề, thử việc để làm việc cho người sử dụng lao động. Nhóm 5: Người làm công tác y tế.  Nhóm 6: An toàn, vệ sinh viên theo quy định tại Điều 74 Luật an toàn, vệ sinh lao động. 2. Về nội dung huấn luyện Trong Nghị định số 44, nội dung huấn luyện an toàn lao động cho các nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động được quy định chặt chẽ hơn, chi tiết hơn so với Thông tư số 27/2013/TT-BLĐTBXH.  Huấn luyện nhóm 1 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh. Huấn luyện nhóm 2 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; xây dựng nội quy, quy chế, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; xây dựng, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch an toàn, vệ sinh lao động hằng năm; phân tích, đánh giá rủi ro và xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp; xây dựng hệ thống quản lý về an toàn, vệ sinh lao động; nghiệp vụ công tác tự kiểm tra; công tác điều tra tai nạn lao động; những yêu cầu của công tác kiểm định, huấn luyện và quan trắc môi trường lao động; quản lý máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; hoạt động thông tin, tuyên truyền, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động; sơ cấp cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp cho người lao động; công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật, thống kê, báo cáo công tác an toàn, vệ sinh lao động; c) Nội dung huấn luyện chuyên ngành: Kiến thức tổng hợp về máy, thiết bị, vật tư, chất phát sinh yếu tố nguy hiểm, có hại; quy trình làm việc an toàn với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động.  Huấn luyện nhóm 3 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động: Chính sách, chế độ về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và phương pháp cải thiện điều kiện lao động; chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; nội quy an toàn, vệ sinh lao động, biển báo, biển chỉ dẫn an toàn, vệ sinh lao động và sử dụng thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân; nghiệp vụ, kỹ năng sơ cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp; c) Nội dung huấn luyện chuyên ngành: Kiến thức tổng hợp về máy, thiết bị, vật tư, chất phát sinh các yếu tố nguy hiểm, có hại và phương pháp phân tích, đánh giá, quản lý rủi ro liên quan đến công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động mà người được huấn luyện đang làm; quy trình làm việc an toàn, vệ sinh lao động; kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động liên quan đến công việc của người lao động.  Huấn luyện nhóm 4 a) Kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động: Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động, người lao động; chính sách, chế độ về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và phương pháp cải thiện điều kiện lao động; chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; nội quy an toàn, vệ sinh lao động, biển báo, biển chỉ dẫn an toàn, vệ sinh lao động và sử dụng các thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân, nghiệp vụ, kỹ năng sơ cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp. b) Huấn luyện trực tiếp tại nơi làm việc: Quy trình làm việc và yêu cầu cụ thể về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.  Huấn luyện nhóm 5 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; c) Huấn luyện cấp Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động: Yếu tố có hại tại nơi làm việc; tổ chức quan trắc môi trường lao động để đánh giá yếu tố có hại; lập hồ sơ vệ sinh lao động tại nơi làm việc; các bệnh nghề nghiệp thường gặp và biện pháp phòng chống; cách tổ chức khám bệnh nghề nghiệp, khám bố trí việc làm, chuẩn bị hồ sơ giám định bệnh nghề nghiệp; tổ chức và kỹ năng sơ cứu, cấp cứu; phòng chống dịch bệnh tại nơi làm việc; an toàn thực phẩm; quy trình lấy và lưu mẫu thực phẩm; tổ chức thực hiện bồi dưỡng hiện vật và dinh dưỡng cho người lao động; nâng cao sức khỏe nơi làm việc, phòng chống bệnh không lây nhiễm tại nơi làm việc; kiến thức, kỹ năng, phương pháp xây dựng kế hoạch, phương án, trang bị phương tiện và điều kiện cần thiết để thực hiện công tác vệ sinh lao động; phương pháp truyền thông giáo dục về vệ sinh lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp; lập và quản lý thông tin về vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp tại nơi làm việc; lập và quản lý hồ sơ sức khỏe người lao động, hồ sơ sức khỏe của người bị bệnh nghề nghiệp. Công tác phối hợp với người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động hoặc bộ phận quản lý công tác an toàn, vệ sinh lao động để thực hiện nhiệm vụ liên quan theo quy định tại Điều 72 Luật an toàn, vệ sinh lao động. Huấn luyện nhóm 6 Người lao động tham gia mạng lưới an toàn, vệ sinh viên ngoài nội dung huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động theo quy định còn được huấn luyện bổ sung về kỹ năng và phương pháp hoạt động của an toàn, vệ sinh viên. 3. Về thời gian huấn luyện an toàn lao động Giống thông tư số 27, thời gian huấn luyện an toàn lao động theo quy định cho nhóm 1 và 4 vẫn giữ nguyên, tối thiểu 16 tiếng; nhóm 2 tối thiểu 48 tiếng. Tuy nhiên với nhóm 3, thời gian huấn luyện tối thiểu đã giảm từ 30 tiếng xuống 24 tiếng. Đặc biệt, nghị định số 44 có quy định thời gian huấn luyện tối thiểu với nhóm 5 và 6 lần lượt là 56 tiếng và 4 tiếng. 4. Về giấy chứng nhận, chứng chỉ an toàn lao động Theo quy định trong Thông tư số 27: – Nhóm 1 sẽ được cấp Chứng nhận huấn luyện (thời hạn 2 năm) – Nhóm 2, 3 là Chứng chỉ huấn luyện (thời hạn 5 năm) – Nhóm 4 sẽ được ghi kết quả huấn luyện vào sổ theo dõi công tác huấn luyện tại cơ sở. Tuy nhiên với Nghị định số 44, ngoài nhóm 4 được giữ nguyên, các nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động đều có thay đổi: – Sau khi hoàn thành khóa học và thông qua kiểm tra, sát hạch, nhóm 1, 2, 5, 6 đều được nhận Chứng nhận huấn luyện an toàn lao động với thời hạn 2 năm. – Với nhóm 3 những người lao động thường xuyên làm việc trong môi trường có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động sẽ được cấp thẻ an toàn lao động có thời hạn 2 năm. – Với nhóm 5, ngoài Chứng nhận huấn luyện an toàn lao động còn được cấp Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động(thời hạn 5 năm). Nội dung hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động được quy định trong Chương 3 của Nghị định. Chương này gồm 16 điều (điều 17 đến điều 32) chia làm 5 mục. Mục 1. Đối tương, nội dung và yêu cầu chung trong hoạt động huấn luyện.Gồm 5 điều (từ điều 17 đến điều 21) quy định đối tượng tham dự khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, nội dung huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, thời gian huấn luyện, chương trình khung và chương trình, tài liệu huấn luyện, huấn luyện, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng về an toàn, vệ sinh lao động và huấn luyện định kỳ. Mục 2. Người huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.Gồm 2 điều (điều 22, điều 23) quy định tiêu chuẩn người huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, xác định thời gian đã làm việc hoặc thời gian đã làm công việc huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động. Mục 3. Giấy chứng nhận huấn luyện, thẻ an toàn và chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động.Gồm 2 điều (điều 24, điều 25) quy định quản lý việc cấp Giấy chứng nhận huấn luyện, Thẻ an toàn, và Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động, thời hạn cấp, cấp mới Giấy chứng nhận huấn luyện, Thẻ an toàn, Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động. Mục 4. Tổ chức huấn luyện, doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.Gồm 6 điều (điều 26 đến điều 31) quy định phân loại tổ chức huấn luyện và điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động, thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động của Tổ chức huấn luyện, hồ sơ, thủ tục cấp mới, cấp lại, gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động của Tổ chức huấn luyện, công nhận cơ sở y tế đủ điều kiện huấn luyện cấp chứng chỉ chứng nhận về y tế lao động, doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, mẫu, thời hạn cấp mới, cấp lại, gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động. Mục 5. Huấn luyện cho người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động, quy định chi tiết hỗ trợ huấn luyện người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động. Theo đó đối tượng được ưu tiên hỗ trợ chi phí huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động là người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng và thân nhân chủ yếu của người có công với cách mạng làm việc không theo hợp đồng lao động khi làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động. Về nguyên tắc hỗ trợ được quy định: - Hỗ trợ chi phí huấn luyện 01 lần đối với 01 công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; - Tham gia đầy đủ chương trình huấn luyện và sát hạch đạt yêu cầu, được cấp Thẻ an toàn; - Hỗ trợ trực tiếp cho người lao động hoặc thông qua Tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động. Cũng theo quy định này mức hỗ trợ theo chi phí thực tế của khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động nhưng không quá 50% mức lương cơ sở/người/khóa huấn luyện theo quy định của Chính phủ tại thời điểm huấn luyện. Nguồn kinh phí hỗ trợ được bố trí trong dự toán chi thường xuyên của cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành. ...


   “Đồng sức, đồng lòng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách để phát triển DN nhanh và bền vững"

    Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh Bình Định tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ VI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 trong 3 ngày từ 26 - 28/8/2015 vào thời điểm đất nước có nhiều sự kiện lịch sử chính trị trọng đại. Với tinh thần quyết tâm “Xây dựng Đảng bộ thực sự trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; đồng sức, đồng lòng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách để phát triển doanh nghiệp nhanh và bền vững, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định”. Đại hội lần này có nhiệm vụ đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Khối lần thứ V, đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2015 – 2020, bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa VI, bầu đoàn đại biểu dự Đại hội XIX Đảng bộ tỉnh và tham gia đóng góp các văn kiện Đại hội cấp trên. Trong 5 năm qua, Đảng bộ đã hoạt động trong điều kiện những thuận lợi và khó khăn đan xen. Đảng và Nhà nước có đường lối chủ trương đúng đắn, có những giải pháp hữu hiệu để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh xúc tiến, thu hút đầu tư được một số dự án có tính động lực cho phát triển khu kinh tế, khu công nghiệp; tổ chức tốt công tác bồi thường giải phóng mặt bằng phục vụ các dự án; xây dựng đồng bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật thiết yếu của Khu kinh tế; Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng chịu sự tác động không nhỏ của tình hình kinh tế, chính trị thế giới với nhiều biến động, bất ổn, nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới; một số doanh nghiệp vốn ít, công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh thấp, giá cả nguyên, nhiên, vật liệu vẫn còn ở mức cao; thị trường xuất khẩu chưa được khai thông, sức mua của nền kinh tế còn thấp; thiên tai, dịch bệnh, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tác động xấu đến sản xuất, kinh doanh, một số doanh nghiệp phải giải thể hoặc sản xuất cầm chừng, đời sống của cán bộ, công nhân viên, người lao động gặp không ít khó khăn; quá trình lãnh đạo hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước còn nhiều bất cập. Trước tình hình trên, cán bộ, đảng viên và công nhân lao động trong toàn Đảng bộ đã có sự nỗ lực, quyết tâm nắm bắt thời cơ, vượt qua các thách thức, phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Khối lần thứ V, nhiệm kỳ 2010 – 2015 và các Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng. Doanh thu của các doanh nghiệp trong Khối tăng trung bình 19%/năm, nộp ngân sách Nhà nước tăng 25,8%/năm; thu nhập bình quân của người lao động tăng 13,3%/năm; kim ngạch xuất khẩu tăng trên 39,7% gồm các mặt hàng chủ yếu như: khoáng sản, gỗ nội thất, hàng thủy sản đông lạnh, quần áo, giày dép...; lượng khách du lịch tăng từ 10-15%/năm; giao thông vận tải cơ bản đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại, giao lưu; bưu chính viễn thông phát triển, đáp ứng nhu cầu thông tin, giao dịch; sản xuất và cung cấp đủ điện phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt và an ninh quốc phòng, tiếp nhận xong lưới điện nông thôn; sản lượng nước sạch hàng năm tăng 5%; tín dụng ngân hàng tiếp tục thực hiện tốt vai trò huy động vốn và cho vay đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng kịp thời nguồn vốn cho vay đối với các doanh nghiệp, giúp tháo gỡ khó khăn, duy trì và tiếp tục phát triển. Nhiều doanh nghiệp đã quan tâm đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị, mở rộng sản xuất, tạo ra sản phẩm chất lượng, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế, tổng giá trị đầu tư bình quân hàng năm đạt trên 690 tỷ đồng; xây dựng và duy trì hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000, ISO 9001: 2008, ISO 14000 về quản lý chất lượng và quản lý môi trường; HACCP, GMP WHO về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, dược phẩm, thiết bị y tế. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo đúng lộ trình; hầu hết các doanh nghiệp sau khi chuyển đổi thì năng lực hoạt động hiệu quả hơn, tích cực tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; bố trí lại đội ngũ cán bộ quản lý và lực lượng lao động, đổi mới quy trình quản lý, công tác quản trị và điều hành, không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh; bảo toàn và phát triển nguồn vốn; hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước; nâng cao thu nhập cho người lao động v.v.. Công tác văn hóa, xã hội được các cấp ủy, lãnh đạo doanh nghiệp và các đoàn thể quan tâm đúng mức, đời sống văn hóa tinh thần, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp từng bước nâng lên, nhiều doanh nghiệp đạt chuẩn Xanh - Sạch - Đẹp; tổng số tiền các doanh nghiệp đóng góp cho công tác xã hội, nhân đạo, từ thiện đạt 87,5 tỷ đồng; gắn hoạt động sản xuất kinh doanh với công tác bảo vệ môi trường, thường xuyên tuyên truyền và vận động cán bộ, công nhân viên, lao động hưởng ứng các hoạt động ngày môi trường thế giới (05/6), chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn, giờ trái đất, cảnh quan, môi trường xung quanh các đơn vị, doanh nghiệp đều được tổ chức vệ sinh, trồng cây xanh, chỉnh trang hoa viên, cây cảnh tạo môi trường xanh, sạch, đẹp. Công tác quốc phòng, an ninh được tăng cường, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng và củng cố, nâng cao chất lượng lực lượng tự vệ, đủ số lượng, bảo đảm chất lượng theo quy định trong Luật dân quân tự vệ. Hàng năm, lực lượng tự vệ được tổ chức huấn luyện, kiểm tra bắn đạn thật đảm bảo yêu cầu; xây dựng phương án chiến đấu tại chỗ và sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống bất trắc xảy ra; lực lượng bảo vệ trong các đơn vị luôn được củng cố và tăng cường, bố trí tuần tra canh gác 24/24 giờ, đảm bảo giữ gìn tài sản của doanh nghiệp; phối hợp với các lực lượng an ninh trên địa bàn ngăn chặn kịp thời những vụ việc phá hoại sản xuất, trộm cắp tài sản và các tệ nạn xã hội. Công tác phòng cháy chữa cháy thường xuyên được kiểm tra, bổ sung trang thiết bị, đồng thời gắn với công tác vệ sinh công nghiệp và an toàn lao động. Định kỳ hàng năm tổ chức diễn tập đạt chất lượng, nhiều đơn vị đạt thứ hạng cao. Phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc trong các doanh nghiệp, được các cấp ủy đảng quan tâm chỉ đạo, phối hợp với Công an tỉnh Bình Định tổ chức phát động các phong trào nhằm tuyên truyền giáo dục cán bộ, đảng viên, công nhân lao động nhận thức rõ âm mưu diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giáo dục người lao động ý thức bảo mật kinh tế, bí mật quốc gia; kịp thời phát hiện và ngăn chặn các biểu hiện phá hoại, tuyên truyền, kích động gây mất an ninh, góp phần tích cực trong việc bảo vệ an ninh trong đơn vị, doanh nghiệp. Công tác xây dựng Đảng đạt được những kết quả tích cực; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy Đảng từng bước được nâng lên, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới. Việc tổ chức quán triệt các nghị quyết của Đảng được chỉ đạo chặt chẽ, đảm bảo tính nghiêm túc và kịp thời; chú trọng đổi mới về hình thức, phương pháp phù hợp với đặc điểm, điều kiện ở cơ sở; đẩy mạnh “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cùng với tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân Việt Nam, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết, củng cố lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo sự nhất trí về tư tưởng và hành động. Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên được chú trọng, trong nhiệm kỳ có 128 đồng chí được cử đi học cao cấp chính trị; 395 đồng chí học trung cấp chính trị, Đảng ủy Khối mở 01 lớp sơ cấp lý luận chính trị cho 80 cán bộ, đảng viên; 02 lớp hoàn chỉnh chương trình Sơ cấp lý luận chính trị cho 186 đồng chí; xác nhận trình độ tương đương Sơ cấp lý luận chính trị cho 349 đồng chí; 14 lớp đảng viên mới cho 1450 đảng viên mới; 20 lớp nhận thức về Đảng cho 2309 quần chúng ưu tú và 03 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng với 331 đồng chí là cấp ủy viên cơ sở, 01 lớp nâng cao kiến thức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý. Công tác tổ chức, cán bộ có sự chuyển biến tích cực, hầu hết các doanh nghiệp đều có sự sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, đồng bộ, hiệu quả; các doanh nghiệp nhà nước sắp xếp tổ chức lại theo hướng kinh doanh đa ngành nghề. Củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng được tổ chức thực hiện nghiêm túc theo tinh thần Nghị quyết 22-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) về “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên”; triển khai, thực hiện Chỉ thị 12-CT/TU của  Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác xây dựng tổ chức đảng và các đoàn thể trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước đạt kết quả khá. Đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng được triển khai nghiêm túc, đúng quy định, số tổ chức cơ sở đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh bình quân 3 năm đầu nhiệm kỳ là 62,35%, năm thứ tư đạt 55,29% (chỉ tiêu theo hướng dẫn của Trung ương không nên quá 50%), 13 cơ sở Đảng đạt “Trong sạch, vững mạnh tiêu biểu” 03 năm liền (2011 - 2013). Công tác phát triển đảng viên được chú trọng, nhất là tạo nguồn, bồi dưỡng quần chúng ưu tú ở cơ sở. Trong nhiệm kỳ, phát triển được 1129 đảng viên, bình quân mỗi năm đạt 6,92% trên tổng số đảng viên có mặt đầu năm (chỉ tiêu của nghị quyết 6%). Chất lượng đảng viên mới được nâng lên, tập trung phát triển ở các đối tượng là cán bộ khoa học kỹ thuật, là nữ, đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh, công nhân trực tiếp lao động. Các cấp ủy Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo công tác đoàn thể chính trị - xã hội (Công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Cựu chiến binh) phát huy vai trò, hoạt động đúng điều lệ. Ban chấp hành các đoàn thể phát động và tham gia các phong trào thi đua thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực hiện các công trình, phần việc thanh niên, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, lao động giỏi, lao động sáng tạo với năng suất – chất lượng – hiệu quả cao, góp phần hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của đơn vị, đồng thời là chỗ dựa tinh thần của quần chúng; quan tâm, chăm lo bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng chất lượng, hiệu quả. Đ/c Võ Vinh Quang-Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy phát biểu chỉ đạo Đại hội Đảng bộ Khối doanh nghiệp lần thứ VI     Nhìn lại 5 năm qua, Đại hội cũng nghiêm túc nhận thấy còn có những khuyết điểm cần phải khắc phục. Một số cấp ủy Đảng có lúc chưa thật sự chủ động trong việc xây dựng kế hoạch và đề ra các giải pháp kịp thời để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Ở một số doanh nghiệp việc đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ chưa đồng bộ; sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ kéo dài nhưng chậm có giải pháp để khắc phục; việc sắp xếp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước có nơi, có lúc chưa kịp tiến độ kế hoạch đề ra; tạo việc làm mới cho người lao động chủ yếu có tính thời vụ; việc thực hiện chính sách, chế độ cho người lao động chưa nghiêm; giá trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong các khu kinh tế, khu công nghiệp còn thấp.  Một số nơi chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng học tập, quán triệt, cụ thể hóa nghị quyết của Đảng thành kế hoạch, chương trình hành động để tổ chức thực hiện; nội dung và hình thức tuyên truyền giáo dục truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân Việt Nam còn đơn điệu, thiếu tính thuyết phục. Một số cấp ủy thực hiện chưa đúng chế độ sinh hoạt Đảng theo quy định, việc tổ chức sinh hoạt chuyên đề nội dung chưa phong phú, chất lượng chưa cao; kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết TW 4 còn nể nang, e ngại, chậm có kế hoạch, biện pháp sửa chữa, khắc phục khuyết điểm; thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW thời gian đầu còn lúng túng, hình thức, ý thức làm theo mờ nhạt, chưa thực sự trở thành hành động tự giác hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên. Việc thành lập các tổ chức đoàn thanh niên trong các doanh nghiệp ngoài khu vực ngoài nhà nước còn chậm, chưa đáp ứng ưu cầu đặt ra. Những hạn chế, yếu kém trên có nhiều nguyên nhân, trong đó những nguyên nhân chủ quan là: Một số tổ chức cơ sở Đảng chưa phát huy vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh; chưa nắm chắc và dự báo sát tình hình để đề ra các giải pháp phù hợp; quản lý đảng viên lỏng lẻo; tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình không cao; một số cấp ủy viên và đảng viên thiếu gương mẫu, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện quy chế làm việc không nghiêm; đội ngũ cán bộ chưa mạnh và thiếu ổn định; chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của từng cấp ủy viên; vai trò lãnh đạo của ban chấp hành công đoàn, đoàn thanh niên mờ nhạt, chưa thu hút người lao động đến với tổ chức. Nhìn lại 5 năm hoạt động Đại hội VI của Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh Bình Định đã nêu lên một số kinh nghiệm chủ yếu để nhiệm kỳ mới thực hiện thành công Nghị quyết của Đại hội. Một là, trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị phải xây dựng định hướng phát triển chiến lược, nắm bắt và tận dụng thời cơ để đầu tư theo hướng khai thác lợi thế so sánh; phát huy tính tự chủ, giảm thiểu tác động tiêu cực từ bên ngoài. Trên cơ sở đó, chuẩn bị tốt nhân lực, vật lực, triển khai đồng bộ, nhanh chóng đưa dự án, công trình vào hoạt động để khai thác, nâng cao năng suất lao động, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, tăng sức cạnh tranh trên thị trường; bảo đảm duy trì sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp. Hai là, triển khai quán triệt Nghị quyết, Chỉ thị phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện của tổ chức cơ sở đảng trong mỗi loại hình doanh nghiệp. Trong xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết cần xác định trọng tâm, trọng điểm, những lĩnh vực then chốt, gắn với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, doanh nghiệp, từ đó đề ra giải pháp cụ thể, có tính khả thi để tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao nhất. Ba là, chăm lo công tác xây dựng tổ chức đảng, xây dựng quy chế và làm việc; xây dựng khối đoàn kết, thống nhất tư tưởng và hành động trong cán bộ đảng viên; thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức đảng và đảng viên để phát huy nhân tố tích cực, chấn chỉnh kịp thời những sai phạm, khuyết điểm. Thực hiện tốt công tác cán bộ, nhất là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ chủ chốt, đảm bảo tiêu chuẩn, thật sự có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, tâm huyết và trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao. Bốn là, phải gắn việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) với đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc thường xuyên, quan trọng, gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị; đổi mới nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đưa việc tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào nội dung sinh hoạt chi bộ thường kỳ, kiểm điểm cuối năm của tổ chức đảng và đảng viên… Đặc biệt, phải duy trì nề nếp công tác kiểm tra của cấp ủy đối với đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới, nghiêm túc thực hiện việc sơ kết đánh giá định kỳ thực hiện Nghị quyết TW4 gắn với Chỉ thị 03-CT/TW. Năm là, đổi mới phương thức lãnh đạo đối với các đoàn thể chính trị là yếu tố quan trọng trong phát huy dân chủ. Các cấp ủy đảng quan tâm xây dựng tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên và Hội Cựu chiến binh vững mạnh chính là xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh. Qua đó tạo mối quan hệ giữa cấp ủy với hội đồng quản trị, lãnh đạo doanh nghiệp và Ban chấp hành các đoàn thể, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, tạo sự đồng thuận nhất trí cao trong cán bộ, đảng viên và người lao động, góp phần quyết định sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Sáu là, phải tạo sự chuyển biến trong nhận thức của các cấp ủy đảng, lãnh đạo doanh nghiệp và người lao động về mục tiêu, các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, sát thực tế và gắn liền với nhiệm vụ chính trị của từng đơn vị để thống nhất nhận thức và hành động trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết....
  • Hình ảnh hoạt động

  • Video hoạt động

1 2 3 4 5 7 9
Beardyman and Reggie Watts on Channel 4 Headspace A Closer Look At The iPhone Political Roast : Obama Emanuel 2005