Bạn đang ở mục Trang chủ

LĐLĐ huyện Phù Mỹ: Công bố quyết định thành lập CĐCS Công ty TNHH Việt Úc – Phù Mỹ
      Ngày 25/11/2016, LĐLĐ huyện Phù Mỹ đã tổ chức Lễ công bố quyết định kết nạp đoàn viên và thành lập CĐCS Công ty TNHH Việt Úc – Phù Mỹ. Tham dự buổi lễ có các đồng chí UV.BTV Liên đoàn Lao động huyện, đại diện Ban giám đốc và toàn thể người lao động đang làm việc tại công ty. Đại diện thường trực LĐLĐ huyện đã công bố các quyết định: Kết nạp đoàn viên cho 20 người lao động; thành lập CĐCS Công ty TNHH Việt Úc – Phù Mỹ; chỉ định BCH CĐCS lâm thời. Đồng chí Võ Thanh Tấn – Chủ tịch LĐLĐ huyện Phù Mỹ  trao quyết định kết nạp đoàn viên Tại buổi lễ, Đồng chí Võ Thanh Tấn – Chủ tịch LĐLĐ huyện phát biểu cảm ơn Ban giám đốc công ty đã tạo điều kiện, giúp đỡ để thành lập tổ chức công đoàn; chúc mừng cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ Công ty TNHH Việt Úc – Phù Mỹ đã gia nhập tổ chức Công đoàn Việt Nam. Đồng thời đề nghị trong thời gian tới, BCH CĐCS lâm thời cần xây dựng kế hoạch hoạt động bám sát vào sự chỉ đạo của công đoàn cấp trên; cùng  đồng hành với Ban giám đốc trong thực hiện kế hoạch SXKD; làm tốt nhiệm vụ bảo vệ, chăm lo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động nhằm nâng cao vai trò, vị thế của tổ chức công đoàn. Xây dựng các quy chế làm việc, quy chế phối hợp; tham gia với Ban Giám đốc thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc theo tinh thần Nghị định 60/2013/NĐ-CP của Chính phủ; chuẩn bị các điều kiện để tổ chức Đại hội CĐCS lần thứ nhất.  
LĐLĐ thành phố Quy Nhơn thành lập mới CĐCS ngoài Nhà nước
      Sáng ngày 28/11, LĐLĐ thành phố Quy Nhơn tổ chức Lễ ra mắt CĐCS Chi nhánh Công ty Cổ phần Sun Taxi tại Bình Định. Tham dự có ông Nguyễn Ngọc Tiến - Chủ tịch LĐLĐ thành phố, Thái Anh Tuấn - Giám đốc Chi nhánh Công ty Cổ phần Sun Taxi tại Bình Định Tại buổi lễ, LĐLĐ thành phố Quy Nhơn đã trao Quyết định kết nạp 355 đoàn viên công đoàn, Quyết định thành lập CĐCS và chỉ định BCH lâm thời CĐCS Chi nhánh Công ty Cổ phần Sun Taxi tại Bình Định gồm 5 đồng chí, là những cán bộ, nhân viên cốt cán, năng nổ đang làm việc tại Công ty. Đại diện Ban chấp hành lâm thời đã phát biểu nhận nhiệm vụ và hứa sẽ tích cực tham gia các hoạt động do LĐLĐ thành phố phát động, đoàn kết, tích cực học tập nâng cao trình độ về chuyên môn nghề nghiệp và phấn đấu xây dựng CĐCS vững mạnh.                             Quang cảnh buổi lễ Ông Thái Anh Tuấn - Giám đốc Chi nhánh Công ty Cổ phần Sun Taxi tại Bình Định cảm ơn sự quan tâm của LĐLĐ thành phố trong suốt quá trình phối hợp, vận động, hướng dẫn các thủ tục thành lập tổ chức công đoàn. Sự ra đời của tổ chức công đoàn Công ty đánh dấu bước phát triển mới của đơn vị; qua đó khuyến khích và động viên cán bộ, công nhân viên và người lao động phát huy tính năng động, sáng tạo trong công việc, gắn bó với Công ty, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển Công ty; công ty sẽ phối hợp, tạo điều kiện tốt nhất để công đoàn cở sở hoạt động ngày càng phát triển; đồng thời cũng mong muốn nhận được sự quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi của LĐLĐ thành phố để CĐCS Chi nhánh Công ty Cổ phần Sun Taxi tại Bình Định đi vào hoạt động có hiệu quả thiết thực. Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Ngọc Tiến - Chủ tịch LĐLĐ thành phố Quy Nhơn đã động viên và giao nhiệm vụ cho BCH lâm thời CĐCS Chi nhánh Công ty Cổ phần Sun Taxi tại Bình Định, trong đó nhấn mạnh: “CĐCS cần phối hợp chặt chẽ với lãnh đạo đơn vị xây dựng các nội quy, quy chế hoạt động, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên công đoàn; tuyên truyền chủ chương, chính sách của Đảng, Nhà nước và tổ chức công đoàn, phát động sâu rộng các phong trào thi đua, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; tập trung chuẩn bị tốt cho Đại hội CĐCS Công ty lần thứ nhất và phối hợp Giám đốc công ty tổ chức tốt Hội nghị Người lao động năm 2017”. Đ/c Nguyễn Ngọc Tiến - Chủ tịch LĐLĐ thành phố Quy Nhơn trao Quyết định cho BCH CĐCS Chi nhánh Công ty Cổ phần Sun Taxi tại Bình Định Dịp này, LĐLĐ thành phố Quy Nhơn trao tặng CĐCS Chi nhánh Công ty Cổ phần Sun Taxi tại Bình Định các tài liệu về Điều lệ Công đoàn, Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Công đoàn, sổ tay an toàn sinh viên và Tạp chí Công đoàn Bình Định.
LĐLĐ tỉnh và Đảng ủy Khối Doanh nghiệp tỉnh ký kết chương trình phối hợp giai đoạn 2016-2020
      Chiều 11.11, LĐLĐ tỉnh và Đảng ủy Khối Doanh nghiệp (DN) tỉnh Bình Định tổ chức Hội nghị tổng kết Chương trình phối hợp giai đoạn 2013-2016 và ký kết triển khai Chương trình phối hợp giai đoạn 2016-2020. Các đồng chí Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Nguyễn Mạnh Hùng và Bí thư Đảng ủy Khối DN tỉnh Lê Văn Hồng chủ trì hội nghị.  Tham dự buổi lễ còn có các đồng chí đại biểu đại diện lãnh đạo Ban Dân vận và Ban Tổ chức tỉnh ủy Bình Định; các đồng chí Thường trực, Ban Thường vụ, lãnh đạo các Ban thuộc LĐLĐ tỉnh và Đảng ủy Khối DN tỉnh. Quang cảnh Hội nghị tổng kết Chương trình phối hợp giai đoạn 2013-2016. Tại Hội nghị, LĐLĐ tỉnh và Đảng ủy Khối DN tỉnh báo cáo tổng kết và đánh giá việc thực hiện 4 nội dung Chương trình phối hợp giai đoạn 2013-2016 về công tác xây dựng, phát triển tổ chức đảng và thành lập CĐCS, và phát triển đoàn viên công đoàn tại các DN trên địa bàn tỉnh. Theo đó, trong giai đoạn 2013-2016, Đảng ủy Khối đã kết nạp 680 đảng viên mới, trong đó có 372 đảng viên mới là công nhân trực tiếp sản xuất, 132 đảng viên mới trong các DN ngoài Nhà nước. Cũng trong giai đoạn 2013-2016, LĐLĐ tỉnh đã triển khai “Chương trình phát triển đoàn viên và thành lập CĐCS” với kết quả thành lập được 82 CĐCS và phát triển được 10.276 đoàn viên CĐ tại các DN trên địa bàn tỉnh, trong đó CĐ Khu kinh tế tỉnh đã thành lập được 27 CĐCS với 2.185 đoàn viên mới. Hội nghị đã tập trung thảo luận các chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện hiệu quả Chương trình phối hợp giai đoạn 2016-2020. Trên cơ sở đó, lãnh đạo LĐLĐ tỉnh và Đảng ủy Khối DN tỉnh đã thống nhất ký kết và triển khai Chương trình phối hợp, cụ thể: hàng năm thành lập ít nhất 4 tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước; Phát triển đảng viên mới ít nhất 10% so với đảng viên trong các chi bộ của các DN thuộc Đảng bộ Khu kinh tế tỉnh. Đối với LĐLĐ tỉnh, phấn đấu đến hết năm 2017, thành lập CĐCS ở tất cả các DN đang hoạt động có từ 30 lao động trở lên; đến hết năm 2018 sẽ thành lập CĐCS ở tất cả các DN có từ 10 lao động trở lên; Phát triển đoàn viên CĐ đạt trên 80% tổng số CNLĐ của DN đóng BHXH. Lãnh đạo LĐLĐ tỉnh và Đảng ủy Khối Doanh nghiệp tỉnh ký kết chương trình phối hợp giai đoạn 2016-2020. Bên cạnh đó, trong giai đoạn 2016-2020, Đảng ủy Khối DN tỉnh và LĐLĐ tỉnh phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo các DN, Khu – Cụm kinh tế trực thuộc Đảng ủy Khối xây dựng tổ chức đảng, tổ chức CĐ trong sạch, vững mạnh. Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và phát huy vai trò của tổ chức CĐ trong việc giám sát, phản biện và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Chú trọng giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho CNVCLĐ; đảm bảo các quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục động viên CNVCLĐ tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước; Thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, tham gia phát triển kinh tế, xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của DN trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.
LĐLĐ huyện Hoài Nhơn thành lập Nghiệp đoàn Nghề cá Tam Quan Bắc
      Chiều 15.11, LĐLĐ huyện Hoài Nhơn (Bình Định) đã tổ chức lễ thành lập Nghiệp đoàn Nghề cá Tam Quan Bắc. Đây là nghiệp đoàn nghề cá đầu tiên trên địa bàn tỉnh được thành lập và đi vào hoạt động. Theo báo cáo của LĐLĐ huyện Hoài Nhơn, chỉ sau 2 tháng tuyên truyền, vận động đã có 141 ngư dân trên địa bàn xã, hầu hết là chủ tàu kiêm thuyền trưởng tàu đánh bắt xa bờ, nộp đơn tự nguyện gia nhập nghiệp đoàn nghề cá. Số ngư dân tham gia nghiệp đoàn đã vượt gần gấp 3 lần so với mục tiêu ban đầu đặt ra. Hiện xã Tam Quan Bắc có 904 tàu cá với tổng công suất 424.813 CV, chiếm trên 37 % tổng số tàu cá toàn huyện, với hơn 5.000 lao động thường xuyên bám biển. Trong đó khoảng 80% tàu có công suất từ 90 CV trở lên chuyên đánh bắt ở các ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa. Đến thời điểm này, xã Tam Quan Bắc đã thành lập được 177 tổ, đội đoàn kết đánh bắt trên biển. Tuy nhiên, tổ đoàn kết đánh bắt xa bờ vẫn chưa phải là tổ chức có pháp nhân, chưa tập hợp đông đảo ngư dân, người lao động và đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho ngư dân. Ra mắt Ban chấp hành lâm thời Nghiệp đoàn nghề cá Tam Quan Bắc. Vì vậy, Nghiệp đoàn Nghề cá Tam Quan Bắc được thành lập có vai trò tập hợp ngư dân làm việc trên tàu và hoạt động trên biển như một tổ chức công đoàn cơ sở, tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật đến tận chủ tàu và người lao động, giúp họ hiểu biết và tự giác chấp hành. Tổ chức công đoàn cơ sở này sẽ gắn kết ngư dân, tạo sức mạnh đoàn kết, liên kết cùng phát triển nghề cá, tương trợ lẫn nhau lúc khó khăn trên biển để làm ăn, đảm bảo an toàn và góp phần phát triển kinh tế biển của địa phương, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Tại buổi lễ thành lập, LĐLĐ huyện Hoài Nhơn đã trao Quyết định kết nạp đoàn viên nghiệp đoàn nghề cá cho 141 ngư dân địa phương và ra mắt Ban Chấp hành lâm thời Nghiệp đoàn nghề cá Tam Quan Bắc gồm 9 thành viên, do bà Huỳnh Thị Tường Vy - Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Chủ tịch UBND xã Tam Quan Bắc làm Chủ tịch nghiệp đoàn. LĐLĐ tỉnh cấp kinh phí ban đầu cho Nghiệp đoàn nghề cá Tam Quan Bắc hoạt động. Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định, Nghiệp đoàn nghề cá Tam Quan Bắc là một tổ chức của Công đoàn, có pháp nhân và đại diện hợp pháp cho người lao động nghề cá, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng. Đồng thời, giúp họ giải quyết các tranh chấp xảy ra trong quá trình hoạt động đánh bắt… Từ mô hình thí điểm này, thời gian tới LĐLĐ tỉnh Bình Định sẽ nhân rộng cho các địa phương khác trên địa bàn tỉnh. Cũng trong dịp này, LĐLĐ tỉnh Bình Định đã cấp kinh phí ban đầu 30 triệu đồng, nhằm tạo điều kiện cho Nghiệp đoàn nghề cá Tam Quan Bắc đi vào hoạt động, thực hiện hiệu quả những chức năng, mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra.
CĐCS Công ty TNHH New Hope Bình Định tổ chức Hội thi Tìm hiểu pháp luật trong CNLĐ
      Vừa qua, BCH CĐCS Công ty TNHH NewHope Bình Định (trực thuộc Công đoàn Khu kinh tế tỉnh) đã phối hợp cùng với Ban giám đốc tổ chức “Hội thi tìm hiểu pháp luật trong CNLĐ” bằng hình thức Gameshow. Đây là hoạt động thiết thực để hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (9/11), qua đó giúp cho đoàn viên, CNLĐ nắm bắt và hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật có liên quan đến người lao động, được thể hiện trong Bộ Luật lao động, Luật Công đoàn năm 2012, Luật BHXH... Hội thi đã thu hút trên 100 CNLĐ trong công ty tham gia cổ vũ. Ông Trương Tấn Trung – Chủ tịch CĐCS (người đứng đầu tiên phía bên phải) trao giải nhất của hội thi  Các đội thi lần lượt trải qua 5 phần thi gồm: Tự giới thiệu – Trắc nghiệm – Đoán ô chữ - Vận động (trò chơi) – Tình huống. Kết thúc hội thi, Ban tổ chức đã trao 01 giải Nhất, 01 giải Nhì, 02 giải Ba, và các phần quà cho khán giả đã có câu trả lời đúng ở phần thi giành cho khán giả.

bacho



THÔNG BÁO - MỜI HỌP

  Lịch công tác của Liên đoàn Lao động tỉnh từ ngày 28/11 đến 4/12/2016 được đăng tải trên Trang thông tin điện tử Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Định tại mục Văn bản.

  • TIN HOẠT ĐỘNG

  • LĐLĐ tỉnh

  • LĐLĐ huyện, thị xã, thành phố

  • Công đoàn ngành

  • Công đoàn cơ sở

  • Tin trong tỉnh



   LĐLĐ huyện Phù Mỹ: Công bố quyết định thành lập CĐCS Công ty TNHH Việt Úc – Phù Mỹ

    Ngày 25/11/2016, LĐLĐ huyện Phù Mỹ đã tổ chức Lễ công bố quyết định kết nạp đoàn viên và thành lập CĐCS Công ty TNHH Việt Úc – Phù Mỹ. Tham dự buổi lễ có các đồng chí UV.BTV Liên đoàn Lao động huyện, đại diện Ban giám đốc và toàn thể người lao động đang làm việc tại công ty. Đại diện thường trực LĐLĐ huyện đã công bố các quyết định: Kết nạp đoàn viên cho 20 người lao động; thành lập CĐCS Công ty TNHH Việt Úc – Phù Mỹ; chỉ định BCH CĐCS lâm thời. Đồng chí Võ Thanh Tấn – Chủ tịch LĐLĐ huyện Phù Mỹ  trao quyết định kết nạp đoàn viên Tại buổi lễ, Đồng chí Võ Thanh Tấn – Chủ tịch LĐLĐ huyện phát biểu cảm ơn Ban giám đốc công ty đã tạo điều kiện, giúp đỡ để thành lập tổ chức công đoàn; chúc mừng cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ Công ty TNHH Việt Úc – Phù Mỹ đã gia nhập tổ chức Công đoàn Việt Nam. Đồng thời đề nghị trong thời gian tới, BCH CĐCS lâm thời cần xây dựng kế hoạch hoạt động bám sát vào sự chỉ đạo của công đoàn cấp trên; cùng  đồng hành với Ban giám đốc trong thực hiện kế hoạch SXKD; làm tốt nhiệm vụ bảo vệ, chăm lo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động nhằm nâng cao vai trò, vị thế của tổ chức công đoàn. Xây dựng các quy chế làm việc, quy chế phối hợp; tham gia với Ban Giám đốc thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc theo tinh thần Nghị định 60/2013/NĐ-CP của Chính phủ; chuẩn bị các điều kiện để tổ chức Đại hội CĐCS lần thứ nhất.  ...


   LĐLĐ tỉnh và Đảng ủy Khối Doanh nghiệp tỉnh ký kết chương trình phối hợp giai đoạn 2016-2020

    Chiều 11.11, LĐLĐ tỉnh và Đảng ủy Khối Doanh nghiệp (DN) tỉnh Bình Định tổ chức Hội nghị tổng kết Chương trình phối hợp giai đoạn 2013-2016 và ký kết triển khai Chương trình phối hợp giai đoạn 2016-2020. Các đồng chí Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Nguyễn Mạnh Hùng và Bí thư Đảng ủy Khối DN tỉnh Lê Văn Hồng chủ trì hội nghị.  Tham dự buổi lễ còn có các đồng chí đại biểu đại diện lãnh đạo Ban Dân vận và Ban Tổ chức tỉnh ủy Bình Định; các đồng chí Thường trực, Ban Thường vụ, lãnh đạo các Ban thuộc LĐLĐ tỉnh và Đảng ủy Khối DN tỉnh. Quang cảnh Hội nghị tổng kết Chương trình phối hợp giai đoạn 2013-2016. Tại Hội nghị, LĐLĐ tỉnh và Đảng ủy Khối DN tỉnh báo cáo tổng kết và đánh giá việc thực hiện 4 nội dung Chương trình phối hợp giai đoạn 2013-2016 về công tác xây dựng, phát triển tổ chức đảng và thành lập CĐCS, và phát triển đoàn viên công đoàn tại các DN trên địa bàn tỉnh. Theo đó, trong giai đoạn 2013-2016, Đảng ủy Khối đã kết nạp 680 đảng viên mới, trong đó có 372 đảng viên mới là công nhân trực tiếp sản xuất, 132 đảng viên mới trong các DN ngoài Nhà nước. Cũng trong giai đoạn 2013-2016, LĐLĐ tỉnh đã triển khai “Chương trình phát triển đoàn viên và thành lập CĐCS” với kết quả thành lập được 82 CĐCS và phát triển được 10.276 đoàn viên CĐ tại các DN trên địa bàn tỉnh, trong đó CĐ Khu kinh tế tỉnh đã thành lập được 27 CĐCS với 2.185 đoàn viên mới. Hội nghị đã tập trung thảo luận các chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện hiệu quả Chương trình phối hợp giai đoạn 2016-2020. Trên cơ sở đó, lãnh đạo LĐLĐ tỉnh và Đảng ủy Khối DN tỉnh đã thống nhất ký kết và triển khai Chương trình phối hợp, cụ thể: hàng năm thành lập ít nhất 4 tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước; Phát triển đảng viên mới ít nhất 10% so với đảng viên trong các chi bộ của các DN thuộc Đảng bộ Khu kinh tế tỉnh. Đối với LĐLĐ tỉnh, phấn đấu đến hết năm 2017, thành lập CĐCS ở tất cả các DN đang hoạt động có từ 30 lao động trở lên; đến hết năm 2018 sẽ thành lập CĐCS ở tất cả các DN có từ 10 lao động trở lên; Phát triển đoàn viên CĐ đạt trên 80% tổng số CNLĐ của DN đóng BHXH. Lãnh đạo LĐLĐ tỉnh và Đảng ủy Khối Doanh nghiệp tỉnh ký kết chương trình phối hợp giai đoạn 2016-2020. Bên cạnh đó, trong giai đoạn 2016-2020, Đảng ủy Khối DN tỉnh và LĐLĐ tỉnh phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo các DN, Khu – Cụm kinh tế trực thuộc Đảng ủy Khối xây dựng tổ chức đảng, tổ chức CĐ trong sạch, vững mạnh. Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và phát huy vai trò của tổ chức CĐ trong việc giám sát, phản biện và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Chú trọng giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho CNVCLĐ; đảm bảo các quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục động viên CNVCLĐ tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước; Thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, tham gia phát triển kinh tế, xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của DN trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay....


   LĐLĐ huyện Phù Mỹ: Công bố quyết định thành lập CĐCS Công ty TNHH Việt Úc – Phù Mỹ

    Ngày 25/11/2016, LĐLĐ huyện Phù Mỹ đã tổ chức Lễ công bố quyết định kết nạp đoàn viên và thành lập CĐCS Công ty TNHH Việt Úc – Phù Mỹ. Tham dự buổi lễ có các đồng chí UV.BTV Liên đoàn Lao động huyện, đại diện Ban giám đốc và toàn thể người lao động đang làm việc tại công ty. Đại diện thường trực LĐLĐ huyện đã công bố các quyết định: Kết nạp đoàn viên cho 20 người lao động; thành lập CĐCS Công ty TNHH Việt Úc – Phù Mỹ; chỉ định BCH CĐCS lâm thời. Đồng chí Võ Thanh Tấn – Chủ tịch LĐLĐ huyện Phù Mỹ  trao quyết định kết nạp đoàn viên Tại buổi lễ, Đồng chí Võ Thanh Tấn – Chủ tịch LĐLĐ huyện phát biểu cảm ơn Ban giám đốc công ty đã tạo điều kiện, giúp đỡ để thành lập tổ chức công đoàn; chúc mừng cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ Công ty TNHH Việt Úc – Phù Mỹ đã gia nhập tổ chức Công đoàn Việt Nam. Đồng thời đề nghị trong thời gian tới, BCH CĐCS lâm thời cần xây dựng kế hoạch hoạt động bám sát vào sự chỉ đạo của công đoàn cấp trên; cùng  đồng hành với Ban giám đốc trong thực hiện kế hoạch SXKD; làm tốt nhiệm vụ bảo vệ, chăm lo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động nhằm nâng cao vai trò, vị thế của tổ chức công đoàn. Xây dựng các quy chế làm việc, quy chế phối hợp; tham gia với Ban Giám đốc thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc theo tinh thần Nghị định 60/2013/NĐ-CP của Chính phủ; chuẩn bị các điều kiện để tổ chức Đại hội CĐCS lần thứ nhất.  ...


   Thăm và tặng quà cán bộ, giáo viên nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam

    Nhân kỷ niệm 34 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2016), ngày 18/11, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Châu, lãnh đạo Sở GD & ĐT, Thường trực Công đoàn ngành Giáo dục Bình Định đã đi thăm và tặng quà cán bộ, giáo viên Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Vân Canh, Trường Chuyên biệt Hy vọng Quy Nhơn và Trường Chính trị tỉnh. Tại các nơi đến thăm, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Châu đã chúc tập thể lãnh đạo, cán bộ, giáo viên và người lao động của các trường luôn mạnh khỏe, đoàn kết, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ “trồng người” mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó. Đồng chí Trần Châu - Phó Chủ tịch UBND tỉnh tặng hoa chúc mừng tập thể cán bộ, giáo viên Trường Chính trị tỉnh Ghi nhận thành tích, đóng góp của các trường đối với ngành Giáo dục và sự phát triển nguồn nhân lực của tỉnh nhà, Phó Chủ tịch Trần Châu đề nghị lãnh đạo các trường tiếp tục đề ra hướng phấn đấu cụ thể để nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo. Đoàn công tác thăm và tặng quà cán bộ, giáo viên Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Vân Canh Dịp này, Công đoàn ngành Giáo dục Bình Định đã trao tặng 66 suất quà (300.000 đồng/suất) với tổng kinh phí là 19.800.000 đồng cho cán bộ, giáo viên Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Vân Canh. Bà Phạm Thị Mỹ Dung - Phó Chủ tịch Công đoàn Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Vân Canh cho biết: “Những phần quà thể hiện sự quan tâm, chia sẻ của công đoàn ngành giáo dục tỉnh đối với ngôi trường miền núi vẫn còn nhiều khó khăn; động viên cán bộ, nhà giáo, người lao động nhà trường yên tâm công tác, thi đua dạy tốt, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ của ngành, của trường đề ra”.  ...


   CĐCS Công ty TNHH New Hope Bình Định tổ chức Hội thi Tìm hiểu pháp luật trong CNLĐ

    Vừa qua, BCH CĐCS Công ty TNHH NewHope Bình Định (trực thuộc Công đoàn Khu kinh tế tỉnh) đã phối hợp cùng với Ban giám đốc tổ chức “Hội thi tìm hiểu pháp luật trong CNLĐ” bằng hình thức Gameshow. Đây là hoạt động thiết thực để hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (9/11), qua đó giúp cho đoàn viên, CNLĐ nắm bắt và hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật có liên quan đến người lao động, được thể hiện trong Bộ Luật lao động, Luật Công đoàn năm 2012, Luật BHXH... Hội thi đã thu hút trên 100 CNLĐ trong công ty tham gia cổ vũ. Ông Trương Tấn Trung – Chủ tịch CĐCS (người đứng đầu tiên phía bên phải) trao giải nhất của hội thi  Các đội thi lần lượt trải qua 5 phần thi gồm: Tự giới thiệu – Trắc nghiệm – Đoán ô chữ - Vận động (trò chơi) – Tình huống. Kết thúc hội thi, Ban tổ chức đã trao 01 giải Nhất, 01 giải Nhì, 02 giải Ba, và các phần quà cho khán giả đã có câu trả lời đúng ở phần thi giành cho khán giả....


   Lãnh đạo tỉnh gặp mặt các doanh nhân, doanh nghiệp nhân ngày Doanh nhân Việt Nam

    Chiều 12.10, tại TP Quy Nhơn, UBND tỉnh đã tổ chức buổi gặp mặt các doanh nhân, doanh nghiệp (DN) nhân ngày Doanh nhân Việt Nam (13.10). Tham dự buổi gặp mặt có các đồng chí: Hồ Quốc Dũng, Chủ tịch UBND tỉnh; Võ Vinh Quang, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Phan Phi Hổ, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh; cùng hơn 200 doanh nhân; đại diện lãnh đạo các huyện, thị xã, thành phố; các sở, ban, ngành, hội nghề nghiệp liên quan trong tỉnh. Quang cảnh buổi gặp mặt doanh nhân, doanh nghiệp do UBND tỉnh tổ chức Theo báo cáo đánh giá, trên địa bàn tỉnh hiện có gần 5.300 DN đang hoạt động trên các lĩnh vực. Những năm qua, dù gặp nhiều khó khăn song các DN trên địa bàn đã có nhiều nỗ lực trong hoạt động sản xuất, kinh doanh (SXKD) nên cơ bản giữ được ổn định, từng bước phát triển và đạt được những kết quả khả quan. Trong 9 tháng đầu năm 2016, tổng sản phẩm trên địa bàn đạt 28,8 ngàn tỉ đồng (tăng 7,52% so với cùng kỳ năm 2015); tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt hơn 38 ngàn tỉ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 520,8 triệu USD... Đạt được những kết quả trên một phần là nhờ lực lượng DN, doanh nhân trong tỉnh đã nỗ lực tìm kiếm thị trường, mở rộng SXKD, tăng sức cạnh tranh, mang lại hiệu quả kinh tế, đóng góp vào sự tăng trưởng KT-XH của tỉnh; đồng thời, tích cực tham gia các hoạt động an sinh xã hội, đền ơn đáp nghĩa, từ thiện xã hội. Tại buổi gặp mặt, đại diện một số hiệp hội, hội doanh nhân và các DN đã phát biểu ý kiến và kiến nghị nhiều vấn đề như: Lãnh đạo tỉnh và các sở, ban, ngành tăng cường cải cách thủ tục hành chính; quan tâm, tạo điều kiện giúp DN tháo gỡ khó khăn, phát triển SXKD… Các doanh nghiệp và doanh nhân tiêu biểu được UBND tỉnh khen thưởng  Phát biểu tại buổi gặp mặt, Chủ tịch UBND tỉnh Hồ Quốc Dũng đã chúc mừng và biểu dương những nỗ lực và kết quả mà các doanh nghiệp, doanh nhân đạt được thời gian qua. Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị các doanh nghiệp, doanh nhân cần nâng cao năng lực quản trị DN để tăng sức cạnh tranh; đẩy nhanh việc ứng dụng các tiến bộ KH-CN vào sản xuất; đề ra các chiến lược kinh doanh, quy trình sản xuất đạt tiêu chuẩn, đầu tư máy móc công nghệ tiên tiến; có chính sách thu hút, đào tạo lao động tay nghề cao, công nhân kỹ thuật bậc cao; Tạo điều kiện các tổ chức công đoàn hoạt động có hiệu quả trong DN, chăm lo và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Qua đó xây dựng mối quan hệ lao động sản xuất hài hòa và ổn định trong DN, từng bước khẳng định vị thế của DN, doanh nhân Bình Định trên thị trường trong và ngoài nước;… Dịp này, UBND tỉnh đã trao 27 Bằng khen cho 5 tập thể, 14 DN và 8 doanh nhân tiêu biểu về thành tích xuất sắc trong hoạt động SXKD giai đoạn 2014 - 2016....
  • CÁC CHUYÊN ĐỀ

  • Tuyên giáo

  • Chính sách & Pháp luật

  • Tổ chức

  • Tài chính

  • Kiểm tra

  • Nữ công



   Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác BHLĐ đáp ứng yêu cầu mới.

    Bình Định, là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ, có tổng diện tích tự nhiên 6.025km2, dân số hơn 1,5 triệu người, trong đó 52 % số người trong độ tuổi lao động, là một trong năm tỉnh của Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung (cùng với Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi). Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khỏi xướng và lãnh đạo, Tỉnh Bình Định đã có nhiều chính sách nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Tính đến tháng 9 năm 2016, toàn tỉnh có gần 5.300 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, trong đó có khoảng 3.000 doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả (413 doanh nghiệp có tổ chức công đoàn) trong các lĩnh vực như: khai thác đá, chế biến gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng, may, chế biến thủy sản…đây là những ngành nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Vai trò của Công đoàn đã và đang phát huy, nhằm đáp ứng với yêu cầu mới được quy định tại Luật an toàn, vệ sinh lao động. Tập huấn công tác an toàn VSLĐ-PCCN tại Công ty Cổ phần Thủy điện Vĩnh Sơn- Sông Hinh Từ thực tiễn năm 2015-2016, Bình Định có những hoạt động nổi bật: công đoàn các cấp trong tỉnh đã quán triệt và nhận thức tầm quan trọng, mục đích, ý nghĩa và tác dụng của công tác BHLĐ có liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của người lao động, tài sản, thương hiệu và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nên đã có những chuyển biến tích cực về  nhận thức và hành động. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 5b/NQ-BCH ngày 08/7/2005 của Ban Chấp hành Tổng LĐLĐ Việt Nam về “Đẩy mạnh công tác BHLĐ của tổ chức Công đoàn trong tình hình mới” được các cấp công đoàn triển khai thực hiện sâu rộng, nâng cao chất lượng hiệu quả. Trong công tác chỉ đạo điều hành đã có những đổi mới theo hướng bám sát các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật BHLĐ và chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện của Tổng LĐLĐ Việt Nam, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tiễn đã có những kế hoạch, hướng dẫn cụ thể phù hợp với từng ngành nghề, địa phương, nhất là các khu cụm công nghiệp, những ngành nghề luôn có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, thông qua các buổi tuyên truyền, tập huấn, hội thảo, đối thoại, in ấn phát hành tờ rơi, biên soạn và phát hành tài liệu dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Tạp chí Công đoàn Bình Định phát  hành 2.000 bản/tháng, nhiều bài phản ánh mô hình, điển hình, chính sách mới về BHLĐ. Tổ chức 25 cuộc triển khai các nội dung có liên quan đến công tác BHLĐ, có trên 150 người sử dụng lao động và 9.000 CNVCLĐ dự; tán phát 1.000 tờ rơi, nhiều khẩu hiệu, biểu ngữ trang trí trên 100  xe đưa đón công nhân hàng ngày tại công sở, xí nghiệp. Các doanh nghiệp chú trọng công tác Bảo hộ lao động (ảnh chụp tại Công ty Cổ phẩn Cảng Thị Nại) Thường xuyên nắm bắt thông tin những bất cập, yêu cầu bức xúc về công tác BHLĐ, kiến nghị kịp thời với chính quyền chuyên môn có biện pháp chỉ đạo. Cụ thể, LĐLĐ tỉnh đã ban hành công văn số 225/LĐLĐ ngày 4/8/2015 đề nghị UBND tỉnh ban hành văn bản chỉ đạo về tăng cường thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động trong sản xuất, kinh doanh nhằm khắc phục tình hình tai nạn lao động chết người gia tăng (12 người chết); nhiều kiến nghị của công đoàn bằng văn bản được trình bày và được đánh giá cao trong buổi tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đình Định tại Khu công nghiệp Phú Tài (có 200 đại biểu là CNLĐ tham dự). Từ đó, UBND tỉnh đã có những biện pháp tăng cường chỉ đạo công tác BHLĐ, thúc đẩy các hoạt động nhằm cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao sức khỏe người lao động, phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, phòng chống cháy nổ. Trước, trong và sau Tuần lễ quốc gia ATVSLĐ và PCCN năm 2015-2016, với chức năng của công đoàn đã tham gia Ban chỉ đạo của tỉnh; cử cán bộ tham gia các đoàn kiểm tra liên ngành về BHLĐ, phòng chống cháy nổ, đặc biệt có điểm mới là ở các LĐLĐ thành phố, thị xã, huyện chủ động xây dựng được kế hoạch hoạt động, kiểm tra các doanh nghiệp về thực hiện chính sách BHLĐ ở các đơn vị đứng chân trên địa bàn, sau kiểm tra có đánh giá và có văn bản cam kết của doanh nghiệp khắc phục những thiết sót của NLĐ và NSDLĐ. Nhiều đơn vị đã có những biện pháp thực hiện các kết luận của kiểm tra về cải thiện điều kiện làm việc, thực hiện tốt phong trào “Xanh - sạch - đẹp, đảm bảo ATVSLĐ”, trang bị phòng hộ lao động, trang bị và cải tiến công nghệ bảo vệ sức khỏe NLĐ, bảo vệ môi trường, hạn chế TNLĐ và BNN. LĐLĐ tỉnh phối hợp với Phân viện BHLĐ & BVMT Miền Trung tại Đà Nẵng tổ chức mở 03 lớp tập huấn cho hơn 240 cán bộ công đoàn và NLĐ ở một số doanh nghiệp theo hướng dẫn của Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH ngày 18/10/2013 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội “Quy định về công tác huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động”. Ngoài ra, còn cung cấp tài liệu và hướng dẫn các đơn vị tự mở lớp tập huấn cho CNLĐ trên trang thông tin điện tử công đoàn. Các cấp Công đoàn còn tổ chức các cuộc hội thao, hội diễn, hội thi “An toàn vệ sinh viên giỏi”, tìm hiểu về Bộ luật Lao động (trên 10 cuộc) thu hút đông đảo CNVCLĐ tham gia. Bình Định là tỉnh được Tổng liên đoàn tặng cờ về phong trào thi đua lao động sáng tạo, trong lĩnh vực BHLĐ có 81 sáng kiến của NLĐ được đưa vào sử dụng như: Thiết bị theo dõi áp lực nước tại các nhà máy. Ứng dụng công nghệ tuần hoàn nước thải ra môi trường để tái xử lý đưa vào sản xuất. Lắp van điện từ cấp nước cho dàn ngưng giải nhiệt, cải tiến đốt gạch...nhiều tập thể và cá nhân được khen thưởng, đặc biệt là được tôn vinh, nhận giải thưởng Nguyễn Đức Cảnh do TLĐ tổ chức 5 năm 1 lần. Hội thi "An toàn vệ sinh viên giỏi" lần thứ V- năm 2016 do LĐLĐ tỉnh tổ chức Bên cạnh những ưu điểm, còn bộc lộ những khó khăn, hạn chế  đó là, còn một bộ phận cấp ủy, chính quyền, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện công tác ATVSLĐ. Một số nơi CĐCS chưa phát huy tốt vai trò của mình trong công tác phối hợp cùng chính quyền (NSDLĐ) trong thực hiện công tác ATVSLĐ. Một số nơi NSDLĐ chưa quan tâm thực hiện tốt Bộ Luật Lao động và công tác ATVSLĐ đối với người lao động. Cán bộ công đoàn chuyên trách và bán chuyên trách các cấp chưa được đào tạo chuyên sâu về công tác BHLĐ. Công tác kiểm tra, đánh giá, nhân rộng điển hình, khen thưởng chưa kịp thời. Sự phối hợp giữa các ngành chức năng, đoàn thể chưa đồng bộ; việc xử lí các vi phạm pháp luật BHLĐ chưa nghiêm. Việc tổ chức Tuần lễ quốc gia ATVSLĐ, PCCC vừa tốn kém, chưa đi vào cuộc sống. Phát huy những ưu điểm, khắc phục khó khăn, hạn chế, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp và đề xuất kiến nghị sau: 1. Theo hướng dẫn của Trung ương, hàng năm tỉnh có tổ chức phát động Tuần lễ Quốc gia về ATVSLĐ và PCCN như cách làm lâu nay là hình thức, hiệu quả thấp, cần nghiên cứu cách tổ chức thiết thực hiệu quả hơn. 2. Tổng LĐLĐ Việt Nam tập trung chỉ đạo thực hiện tốt Kết luận số 1702/KL-ĐCT ngày 01/11/2016 của Đoàn Chỉ tịch về việc Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện phong trào “Xanh – sạch – Đòa, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động” trong các cấp công đoàn; nghiên cứu ban hành biểu điểm đánh giá công tác BHLĐ phù hợp với yêu cầu mới về hội nhập kinh tế thế giới và Luật ATVSLĐ để có cơ sở  đánh giá tổng kết, khen thưởng, thúc đẩy công tác BHLĐ. 3. Những tỉnh có Trung tâm Dạy nghề nên nhanh chóng bổ sung cho phép huấn luyện cấp chứng chỉ về ATVSV cơ sở, hiện nay đang có nhu cầu lớn theo Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH ngày 18/10/2013 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội “Quy định về công tác huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động”. 4. Về nguồn nhân lực TLĐ nên quy định “cứng” tại Đề án vị trí việc làm, mỗi Công đoàn tỉnh ít nhất có một chuyên trách là kỹ sư BHLĐ mới đủ điều kiện, kiến thức, am hiểu chuyên môn, có năng lực thực thi công việc của công đoàn tham gia với chính quyền đảm bảo thực hiện Luật ATVSLĐ. 5. TLĐ quy định các tỉnh ưu tiên phân bổ kinh phí, tranh thủ nguồn khác hỗ trợ (ngân sách tỉnh, kết dư BHXH) tổ chức huấn luyện, tuyên truyền và nghiên cứu một số đề tài khoa học tìm ra các giải pháp khắc phục những hạn chế, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác BHLĐ. 6. Nhà nước nên có quy định nghiêm ngặt về xử lí vi phạm, che giấu, không khai báo tai nạn lao động làm chết người....


   Công đoàn Bình Định 40 năm sau ngày giải phóng (1975 – 2015)

    Trải qua 40 năm (1975-2015), đất nước cũng như tỉnh nhà đã có biết bao biến đổi tích cực, sâu sắc trên tất cả các mặt kinh tế, đời sống xã hội, được trải nghiệm qua thực tiễn cuộc sống và tất yếu không chỉ có thuận lợi mà đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách. Song có thể khẳng định rằng  công nhân lao động và tổ chức Công đoàn tỉnh nhà đã tỏ rõ một lòng một dạ trung thành, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, phấn đấu không ngừng nhằm hoàn thành nhiệm vụ chính trị được Đảng bộ giao phó, xứng đáng với truyền thống cách mạng vẻ vang của giai cấp công nhân Việt Nam. Được thử thách, rèn luyện trong mọi hoàn cảnh, nhất là thời kỳ đổi mới đất nước, phong trào công nhân lao động trong tỉnh phát triển cả chiều rộng và chiều sâu; tổ chức Công đoàn, cán bộ Công đoàn ngày càng được trưởng thành về chất lượng và số lượng. Sau ngày giải phóng năm 1975 toàn tỉnh có 4.339 đòan viên, 2000 có 890 CĐCS với 36.000 đoàn viên đến năm  2015 có 1.509 CĐCS, NĐ với 77.143 đoàn viên.                  Sau ngày giải phóng toàn tỉnh (31/3/1975), các cấp công đoàn khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trước mắt do Tỉnh ủy đề ra, phục vụ kịp thời chiến dịch Hồ Chí Minh.Tháng 10/1975, hợp nhất tỉnh Bình Định và tỉnh Quảng Ngãi thành tỉnh Nghĩa Bình, tổ chức công đoàn cũng được hợp nhất thành Công đoàn tỉnh Nghĩa Bình. Trong thời kỳ này nhiệm vụ trọng tâm là khắc phục hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, khôi phục sản xuất và phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, mà cốt lõi là việc làm, đời sống và dân chủ cho CNLĐ. Vì vậy Công đoàn đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền và các đơn vị chức năng tổ chức sản xuất, tập hợp, vận động CNLĐ thi đua lao động sản xuất và tiết kiệm, đảm bảo hiệu quả kinh tế và đời sống. Từ năm 1976 đến 1986 là thời kỳ cả nước vừa đẩy mạnh sản xuất nhưng đồng thời khẩn trương tiến hành cải tạo XHCN trong nông nghiệp, công thương nghiệp tư bản tư nhân. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, Công đoàn đã kịp thời phân công cán bộ chịu trách nhiệm từng mảng công việc, ra sức bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu vận dụng các loại hình hoạt động công đoàn trong các cơ quan, xí nghiệp. Các phong trào thi đua: “3 cải tiến” trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, “3 điểm cao” trong các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, phong trào xây dựng tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa… được phát động rộng rãi, đạt được nhiều thành quả nhất là đã xây dựng được một số cơ sở vật chất trong ngành thủy lợi, giao thông, đời sống  của cán bộ, viên chức tuy còn nhiều khó khăn nhưng không bị đảo lộn. Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo (tháng 12/1986 đến nay). Các cấp công đoàn đã đầu tư vào việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành các nghị quyết, các đề án, chương trình hành động, kế hoạch thực hiện với bước đi, giải pháp cụ thể, hiệu quả thiết thực; nổi lên là đã chú ý tìm tòi, thử nghiệm việc đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động phù hợp với tình hình mới; rất coi trọng phát triển đoàn viên ra các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, các hoạt động tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao giác ngộ nhận thức chính trị trong đoàn viên, CNLĐ; tổ chức họ vào các phong trào hành động cách mạng, khơi dậy tính tích cực, tự chủ, sáng tạo trong sản xuất và công tác, tìm tạo thêm việc làm để có thu nhập chính đáng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng và an ninh của địa phương. Sau ngày tái lập tỉnh Bình Định (7/1989), Công đoàn tiếp tục vượt qua những thử thách lớn: Với chức năng tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của người lao động, Công đoàn đã quan hệ chặt chẽ với chính quyền cùng cấp bằng qui chế phối hợp tháo gỡ khó khăn, tổ chức lại sản xuất, giải quyết chế độ thoả đáng cho số lao động dôi dư, tạo điều kiện cho họ có cuộc sống tốt hơn. Các phong trào thi đua “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất”, phong trào “giỏi việc nước, đảm việc nhà”; phấn đấu hoàn thành nhiều công trình, sản phẩm mới; phong trào học tập nâng cao trình độ văn hóa, nghiệp vụ, tay nghề; thực hiện cuộc vận động “ trung thành, sáng tạo, tận tụy gương mẫu”, gắn với “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; phong trào đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, xây dựng cơ quan, đơn vị văn hóa, gia đình văn hóa và thực hiện đời sống văn hóa ở khu dân cư... xuất hiện nhiều điển hình tập thể và cá nhân tiêu biểu được biểu khen thưởng góp phần tích cực thúc đẩy nhiệm vụ kinh tế-xã hội của tỉnh phát triển toàn diện. Từ thực tiễn phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn tỉnh 40 năm rút ra một số kinh nghiệm quý báu: 1- Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của công tác công đoàn và phong trào công nhân lao động; quán triệt sâu sắc và vận dụng một cách nhuần nhuyễn các quan điểm, chủ trương của Đảng, kế hoạch của Nhà nước từng thời kỳ mà định ra nhiệm vụ và biện pháp công tác công đoàn một cách sát, đúng, sáng tạo. Thực tiễn cho thấy nơi nào cấp ủy Đảng quan tâm, tăng cường vai trò lãnh đạo của mình đối với tổ chức công đoàn, thì nơi đó hoạt động công đoàn có hiệu quả, phát huy tính chủ động, tích cực trong việc nắm chắc tình hình yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của CNVCLĐ, phản ảnh với các cấp ủy đảng giải quyết kịp thời. 2- Hoạt động của công đoàn thường xuyên nắm vững chức năng vận động CNVCLĐ, làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục, thay mặt CNVC-LĐ tham gia quản lý kinh tế, quản lý nhà nuớc; bảo vệ lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động. Mọi hoạt động của Công đoàn phải xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ, chủ trương của Đảng, yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVC-LĐ, vừa bảo vệ việc làm đúng của chủ doanh nghiệp tạo sự đồng thuận, ổn định và phát triển doanh nghiệp, hóa giải những khó khăn của doanh nghiệp, nhưng đồng thời công đoàn cũng kiên quyết đấu tranh buộc chủ doanh nghiệp thực hiện các yêu cầu đúng đắn của công nhân lao động, có như vậy mới thể hiện được bản lĩnh của công đoàn, mới thu hút được đông đảo CNLĐ tham gia các hoạt động công đoàn. 3- Công đoàn cần đặc biệt coi trọng việc đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động, theo hướng sát cơ sở và người lao động. Xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức đúng với tính chất là tổ chức của giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng, hết sức coi trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng với tình hình mới. 4- Có sự phối hợp, cộng tác, hỗ trợ của các cấp chính quyền và đoàn thể, thực hiện liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Phát huy tiềm lực CNVCLĐ thể hiện vai trò nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và xây dựng nông thôn mới.                                                                        ThS.Nguyễn Ngọc Anh                                                                        Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh  ...


   Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác BHLĐ đáp ứng yêu cầu mới.

    Bình Định, là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ, có tổng diện tích tự nhiên 6.025km2, dân số hơn 1,5 triệu người, trong đó 52 % số người trong độ tuổi lao động, là một trong năm tỉnh của Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung (cùng với Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi). Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khỏi xướng và lãnh đạo, Tỉnh Bình Định đã có nhiều chính sách nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Tính đến tháng 9 năm 2016, toàn tỉnh có gần 5.300 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, trong đó có khoảng 3.000 doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả (413 doanh nghiệp có tổ chức công đoàn) trong các lĩnh vực như: khai thác đá, chế biến gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng, may, chế biến thủy sản…đây là những ngành nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Vai trò của Công đoàn đã và đang phát huy, nhằm đáp ứng với yêu cầu mới được quy định tại Luật an toàn, vệ sinh lao động. Tập huấn công tác an toàn VSLĐ-PCCN tại Công ty Cổ phần Thủy điện Vĩnh Sơn- Sông Hinh Từ thực tiễn năm 2015-2016, Bình Định có những hoạt động nổi bật: công đoàn các cấp trong tỉnh đã quán triệt và nhận thức tầm quan trọng, mục đích, ý nghĩa và tác dụng của công tác BHLĐ có liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của người lao động, tài sản, thương hiệu và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nên đã có những chuyển biến tích cực về  nhận thức và hành động. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 5b/NQ-BCH ngày 08/7/2005 của Ban Chấp hành Tổng LĐLĐ Việt Nam về “Đẩy mạnh công tác BHLĐ của tổ chức Công đoàn trong tình hình mới” được các cấp công đoàn triển khai thực hiện sâu rộng, nâng cao chất lượng hiệu quả. Trong công tác chỉ đạo điều hành đã có những đổi mới theo hướng bám sát các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật BHLĐ và chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện của Tổng LĐLĐ Việt Nam, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tiễn đã có những kế hoạch, hướng dẫn cụ thể phù hợp với từng ngành nghề, địa phương, nhất là các khu cụm công nghiệp, những ngành nghề luôn có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, thông qua các buổi tuyên truyền, tập huấn, hội thảo, đối thoại, in ấn phát hành tờ rơi, biên soạn và phát hành tài liệu dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Tạp chí Công đoàn Bình Định phát  hành 2.000 bản/tháng, nhiều bài phản ánh mô hình, điển hình, chính sách mới về BHLĐ. Tổ chức 25 cuộc triển khai các nội dung có liên quan đến công tác BHLĐ, có trên 150 người sử dụng lao động và 9.000 CNVCLĐ dự; tán phát 1.000 tờ rơi, nhiều khẩu hiệu, biểu ngữ trang trí trên 100  xe đưa đón công nhân hàng ngày tại công sở, xí nghiệp. Các doanh nghiệp chú trọng công tác Bảo hộ lao động (ảnh chụp tại Công ty Cổ phẩn Cảng Thị Nại) Thường xuyên nắm bắt thông tin những bất cập, yêu cầu bức xúc về công tác BHLĐ, kiến nghị kịp thời với chính quyền chuyên môn có biện pháp chỉ đạo. Cụ thể, LĐLĐ tỉnh đã ban hành công văn số 225/LĐLĐ ngày 4/8/2015 đề nghị UBND tỉnh ban hành văn bản chỉ đạo về tăng cường thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động trong sản xuất, kinh doanh nhằm khắc phục tình hình tai nạn lao động chết người gia tăng (12 người chết); nhiều kiến nghị của công đoàn bằng văn bản được trình bày và được đánh giá cao trong buổi tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đình Định tại Khu công nghiệp Phú Tài (có 200 đại biểu là CNLĐ tham dự). Từ đó, UBND tỉnh đã có những biện pháp tăng cường chỉ đạo công tác BHLĐ, thúc đẩy các hoạt động nhằm cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao sức khỏe người lao động, phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, phòng chống cháy nổ. Trước, trong và sau Tuần lễ quốc gia ATVSLĐ và PCCN năm 2015-2016, với chức năng của công đoàn đã tham gia Ban chỉ đạo của tỉnh; cử cán bộ tham gia các đoàn kiểm tra liên ngành về BHLĐ, phòng chống cháy nổ, đặc biệt có điểm mới là ở các LĐLĐ thành phố, thị xã, huyện chủ động xây dựng được kế hoạch hoạt động, kiểm tra các doanh nghiệp về thực hiện chính sách BHLĐ ở các đơn vị đứng chân trên địa bàn, sau kiểm tra có đánh giá và có văn bản cam kết của doanh nghiệp khắc phục những thiết sót của NLĐ và NSDLĐ. Nhiều đơn vị đã có những biện pháp thực hiện các kết luận của kiểm tra về cải thiện điều kiện làm việc, thực hiện tốt phong trào “Xanh - sạch - đẹp, đảm bảo ATVSLĐ”, trang bị phòng hộ lao động, trang bị và cải tiến công nghệ bảo vệ sức khỏe NLĐ, bảo vệ môi trường, hạn chế TNLĐ và BNN. LĐLĐ tỉnh phối hợp với Phân viện BHLĐ & BVMT Miền Trung tại Đà Nẵng tổ chức mở 03 lớp tập huấn cho hơn 240 cán bộ công đoàn và NLĐ ở một số doanh nghiệp theo hướng dẫn của Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH ngày 18/10/2013 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội “Quy định về công tác huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động”. Ngoài ra, còn cung cấp tài liệu và hướng dẫn các đơn vị tự mở lớp tập huấn cho CNLĐ trên trang thông tin điện tử công đoàn. Các cấp Công đoàn còn tổ chức các cuộc hội thao, hội diễn, hội thi “An toàn vệ sinh viên giỏi”, tìm hiểu về Bộ luật Lao động (trên 10 cuộc) thu hút đông đảo CNVCLĐ tham gia. Bình Định là tỉnh được Tổng liên đoàn tặng cờ về phong trào thi đua lao động sáng tạo, trong lĩnh vực BHLĐ có 81 sáng kiến của NLĐ được đưa vào sử dụng như: Thiết bị theo dõi áp lực nước tại các nhà máy. Ứng dụng công nghệ tuần hoàn nước thải ra môi trường để tái xử lý đưa vào sản xuất. Lắp van điện từ cấp nước cho dàn ngưng giải nhiệt, cải tiến đốt gạch...nhiều tập thể và cá nhân được khen thưởng, đặc biệt là được tôn vinh, nhận giải thưởng Nguyễn Đức Cảnh do TLĐ tổ chức 5 năm 1 lần. Hội thi "An toàn vệ sinh viên giỏi" lần thứ V- năm 2016 do LĐLĐ tỉnh tổ chức Bên cạnh những ưu điểm, còn bộc lộ những khó khăn, hạn chế  đó là, còn một bộ phận cấp ủy, chính quyền, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện công tác ATVSLĐ. Một số nơi CĐCS chưa phát huy tốt vai trò của mình trong công tác phối hợp cùng chính quyền (NSDLĐ) trong thực hiện công tác ATVSLĐ. Một số nơi NSDLĐ chưa quan tâm thực hiện tốt Bộ Luật Lao động và công tác ATVSLĐ đối với người lao động. Cán bộ công đoàn chuyên trách và bán chuyên trách các cấp chưa được đào tạo chuyên sâu về công tác BHLĐ. Công tác kiểm tra, đánh giá, nhân rộng điển hình, khen thưởng chưa kịp thời. Sự phối hợp giữa các ngành chức năng, đoàn thể chưa đồng bộ; việc xử lí các vi phạm pháp luật BHLĐ chưa nghiêm. Việc tổ chức Tuần lễ quốc gia ATVSLĐ, PCCC vừa tốn kém, chưa đi vào cuộc sống. Phát huy những ưu điểm, khắc phục khó khăn, hạn chế, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp và đề xuất kiến nghị sau: 1. Theo hướng dẫn của Trung ương, hàng năm tỉnh có tổ chức phát động Tuần lễ Quốc gia về ATVSLĐ và PCCN như cách làm lâu nay là hình thức, hiệu quả thấp, cần nghiên cứu cách tổ chức thiết thực hiệu quả hơn. 2. Tổng LĐLĐ Việt Nam tập trung chỉ đạo thực hiện tốt Kết luận số 1702/KL-ĐCT ngày 01/11/2016 của Đoàn Chỉ tịch về việc Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện phong trào “Xanh – sạch – Đòa, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động” trong các cấp công đoàn; nghiên cứu ban hành biểu điểm đánh giá công tác BHLĐ phù hợp với yêu cầu mới về hội nhập kinh tế thế giới và Luật ATVSLĐ để có cơ sở  đánh giá tổng kết, khen thưởng, thúc đẩy công tác BHLĐ. 3. Những tỉnh có Trung tâm Dạy nghề nên nhanh chóng bổ sung cho phép huấn luyện cấp chứng chỉ về ATVSV cơ sở, hiện nay đang có nhu cầu lớn theo Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH ngày 18/10/2013 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội “Quy định về công tác huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động”. 4. Về nguồn nhân lực TLĐ nên quy định “cứng” tại Đề án vị trí việc làm, mỗi Công đoàn tỉnh ít nhất có một chuyên trách là kỹ sư BHLĐ mới đủ điều kiện, kiến thức, am hiểu chuyên môn, có năng lực thực thi công việc của công đoàn tham gia với chính quyền đảm bảo thực hiện Luật ATVSLĐ. 5. TLĐ quy định các tỉnh ưu tiên phân bổ kinh phí, tranh thủ nguồn khác hỗ trợ (ngân sách tỉnh, kết dư BHXH) tổ chức huấn luyện, tuyên truyền và nghiên cứu một số đề tài khoa học tìm ra các giải pháp khắc phục những hạn chế, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác BHLĐ. 6. Nhà nước nên có quy định nghiêm ngặt về xử lí vi phạm, che giấu, không khai báo tai nạn lao động làm chết người....


   Thực hiện công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

    1. Những kết quả bước đầu Thực hiện Kết luận số 80-KL/TW ngày 29/7/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa X) về “Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” (gọi tắt là Kết luận 80) và Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 07/11/2011của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “Về việc tăng cường công tác xây dựng Đảng, xây dựng các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước”.  Trong 5 năm qua, Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh đã chỉ đạo công đoàn các cấp, đặc biệt tập trung chỉ đạo liên đoàn lao động các huyện, thị xã, thành phố và Công đoàn Khu kinh tế tỉnh phối hợp với chính quyền, các ngành liên quan tập trung khảo sát nắm tình hình hoạt động các doanh nghiệp, triển khai thực hiện tốt công tác phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn. Toàn tỉnh có 69.387 lao động và 529 doanh nghiệp, trong đó số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 34 doanh nghiệp, đây là đối tượng mà công đoàn hướng tới. Đồng thời, đã có 15/15 công đoàn huyện, thị xã, thành phố, công đoàn ngành và trên 80% số công đoàn cơ sở có văn bản cụ thể hóa triển khai thực hiện phù hợp với điều kiện, đặc thù từng  đơn vị, chú trọng đối tượng lao động khu vực  kinh tế ngoài nhà nước. Xây dựng tổ chức công đoàn và chú trọng phát triển đoàn viên là cơ sở xã hội góp phần xây dựng Đảng. Do đó, công tác phát triển đoàn viên và thành lập tổ chức CĐCS trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài một lĩnh vực khó khăn, phức tạp, tỷ lệ đạt còn thấp là mối quan tâm của các cấp công đoàn trong tỉnh, nhất là Công đoàn khu kinh tế. Các cấp công đoàn trong tỉnh đã triển khai thực hiện “Chương trình phát triển đoàn viên và thành lập công đoàn cơ sở ” với nhiều giải pháp thiết thực như: đã tổ chức đăng ký, giao chỉ tiêu phấn đấu hàng năm về công tác phát triển đoàn viên và thành lập tổ chức công đoàn cơ sở; tiến hành khảo sát các doanh nghiệp và thực hiện vận động trực tiếp việc thành lập tổ chức công đoàn; ban hành và thực hiện quy định về tiêu chuẩn, bảng chấm điểm, xếp loại đối với các cấp công đoàn; kịp thời sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn chấm điểm, đánh giá công đoàn cấp trên cơ sở và công đoàn cơ sở phù hợp với từng loại hình. Kết quả, từ năm 2011 đến tháng 6/2016, toàn tỉnh có tổng số 60.248 lao động trong các doanh nghiệp đã có CĐCS, trong đó: 40.843 lao động là đoàn viên công đoàn đạt tỷ lệ 67,79%%, có 371/529 doanh nghiệp đã thành lập CĐCS đạt tỷ lệ 70,13%. Riêng các khu công nghiệp có 138 doanh nghiệp với 12.665 lao động, trong đó có 6.001 là đoàn viên công đoàn đạt tỷ lệ 47,38% và có 90 doanh nghiệp có CĐCS đạt tỷ lệ 65,2%, số doanh nghiệp có 30 lao động trở lên  ngày càng thu hẹp dần, còn chưa tới 4%. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp, LĐLĐ tỉnh đã chủ động đổi mới nội dung và phương thức hoạt động trên cơ sở căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn. Trong 5 năm qua tỷ lệ CĐCS đạt vững mạnh, vững mạnh xuất sắc bình quân hàng năm đạt trên 70%. Kết quả công tác phát triển đảng trong doanh nghiệp, công tác củng cố tổ chức, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ công đoàn, phát triển đảng viên, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong các loại hình doanh nghiệp luôn được các cấp công đoàn quan tâm thực hiện, 5 năm qua đã giới thiệu 10.588 đoàn viên ưu tú cho cấp ủy xem xét kết nạp và đã có 7.021 đoàn viên được kết nạp vào Đảng (Năm 2011: Đã giới thiệu 2.020 đoàn viên ưu tú, kết nạp 1.105 đảng viên. Năm 2012: Đã giới thiệu 2.415 đoàn viên ưu tú, kết nạp 1.838 đảng viên.Năm 2013: Đã giới thiệu 2.200 đoàn viên ưu tú, kết nạp 1.551 đảng viên.Năm 2014: Đã giới thiệu 2.152 đoàn viên ưu tú, kết nạp 1.359 đảng viên.Năm 2015: Đã giới thiệu 1.801 đoàn viên ưu tú, kết nạp 1.168 đảng viên). Trong 5 năm, đã cử 627 lượt cán bộ công đoàn thuộc các doanh nghiệp tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ công đoàn, cho nên trình độ, chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn từng. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy còn những hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới: - Công tác triển khai, tổ chức thực hiện Kết luận 80 chưa được thường xuyên, liên tục, thiếu kiểm tra đôn đốc, đánh giá, nhân điển hình, đề ra giải pháp thực hiện hiệu qủa hơn. - Vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể cùng cấp chưa thật sự phát huy, phối hợp chưa chặt chẽ. - Tỷ lệ phát triển tổ chức công đoàn, phát triển đoàn viên, công nhân được kết nạp đứng vào hàng ngũ của Đảng còn thấp so với số lượng doanh nghiệp, CNLĐ. - Chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn ngoài nhà nước nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. 2. Bài học  kinh nghiệm - Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp chỉ đạo: Nơi nào cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp quan tâm, coi trọng công tác củng cố nâng cao chất lượng hoạt động CĐCS và xây dựng tổ chức công đoàn cơ sở vững mạnh, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, thì nơi đó vai trò hoạt động công đoàn cơ sở được phát huy. - Về công tác tổ chức và cán bộ: Thường xuyên củng cố, kiện toàn, bố trí đội ngũ cán bộ CĐCS phù hợp, tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả hoạt động công đoàn; tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ công đoàn và chất lượng hoạt động của tổ đối thoại, tổ thương lượng, để thực hiện tốt chức năng đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. - Về nội dung và phương thức hoạt động: Thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động CĐCS thiết thực, phù hợp, sát hợp với tình hình thực tiễn của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Nâng cao vai trò, vị trí của tổ chức công đoàn trong việc thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở; thường xuyên tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước và luật công đoàn đến CNVCLĐ, người đứng đầu các cơ quan đơn vị, nhất là người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp, nhằm thay đổi nhận thức và hành vi, thể hiện được vai trò quan trọng trong việc tăng cường hỗ trợ các biện pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động CĐCS - Về công tác xây dựng CĐCS vững mạnh: Thường xuyên đổi mới nội dung và phương thức hoạt động công đoàn; kịp thời ban hành và bổ sung sửa đổi quy định về bảng điểm đánh giá xếp loại CĐCS thật cụ thể, sát với điều kiện, đặc thù các loại hình CĐCS, tiến hành kiểm tra, đánh giá hoạt động CĐCS hằng năm qua đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động CĐCS, xây dựng CĐCS vững mạnh.  3. Giải pháp thời gian tới Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục, tạo sự thống nhất về nhận thức trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên, người lao động và chủ doanh nghiệp về nhiệm vụ xây dựng, phát triển tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp theo nội dung Chỉ thị 07-CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII và Kết luận 80 trong tình hình mới nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp ủy đảng, đảng viên và chủ doanh nghiệp về sự cần thiết khách quan, tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng và phát triển tổ chức Đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước. Hài là,  tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức thực hiện của các cấp ủy đảng, công đoàn cấp trên, nhất là công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở trong việc thực hiện Kết luận 80.  Bà là, tiếp tục điều tra, khảo sát tình hình tất cả các doanh nghiệp trên địa bàn chưa có tổ chức công đoàn có số lượng lao động từ 10 người trở lên để nắm tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình lao động và sử dụng lao động của doanh nghiệp…để có phương pháp tiếp cận, thuyết phục, vận động đẩy mạnh phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bốn là, tập trung củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của CĐCS, xây dựng CĐCS vững mạnh trong doanh nghiệp. Năm là, đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp (giới thiệu đoàn viên công đoàn ưu tú để Đảng xem xét, bồi dưỡng, kết nạp). Sáu là, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước....



   Một số kết quả hoạt động kiểm tra của các cấp công đoàn trong 6 tháng đầu năm 2013

    Trong những tháng đầu năm 2013 Ban Chấp hành, Ban thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh đã tập trung chỉ đạo hoạt động của ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp trong tỉnh đạt được các kết quả sau. Thực hiện kiểm tra việc chấp hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam. Năm 2013 là năm đầu tiên các cấp công đoàn trong tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội XII Công đoàn Bình Định và nghị quyết đại hội cấp mình. Hoạt động của ủy ban kiểm tra công đoàn tỉnh chủ yếu tập trung vào kiểm tra cấp cơ sở thực hiện triển khai Nghị quyết Công đoàn và việc phổ biến, triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các quy định của Tổng Liên đoàn. Trong 6 tháng đầu năm 2013 ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã thực hiện được 128 cuộc kiểm tra, trong đó có 58 cuộc kiểm tra ở cùng cấp và 70 cuộc kiểm tra cấp dưới. Qua kiểm tra cho thấy; về cơ bản ban chấp hành, ban thường vụ công đoàn các cấp chấp hành tốt các quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam; đã phát huy vai trò, chức năng của công đoàn, hoạt động có bước chuyển biến mới, hướng về cơ sở, vì quyền lợi của đoàn viên và người lao động; đại diện ký kết thỏa ước lao động tập thể; tham gia tích cực với cơ quan nhà nước và người sử dụng lao động để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động; tổ chức tốt công tác tuyên truyền giáo dục, thường xuyên đưa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các chủ trương của Tổng Liên đoàn đến với công nhân, viên chức và người lao động. Chú trọng công tác bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ công đoàn ở cơ sở nhằm nâng cao chất lượng hoạt động; đẩy mạnh các hoạt động xã hội từ thiện để giúp đỡ đoàn viên, công nhân lao động gặp khó khăn, hoạn nạn. Thực hiện kiểm tra công đoàn cùng cấp và cấp dưới khi tổ chức hoặc đoàn viên có dấu hiệu vi phạm Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của công đoàn. Trong 6 tháng đầu năm, ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã thực hiện 28 cuộc kiểm tra đối với tổ chức, cán bộ, đoàn viên ở cùng cấp và 20 cuộc đối với tổ chức, cán bộ, đoàn viên ở cấp dưới. Những vi phạm phổ biến tập trung ở việc thực hiện chế độ sinh hoạt, hội họp công đoàn; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo chưa kịp thời, đầy đủ; sổ sách, tài liệu quản lý chưa khoa học. Ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã kịp thời chấn chỉnh, kiến nghị biện pháp khắc phục, sửa chữa trong việc thực hiện Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của công đoàn. Thực hiện Kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản và hoạt động kinh tế của công đoàn. Ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã tiến hành được 170 cuộc, trong đó đồng cấp 116 cuộc và 54 cuộc kiểm tra cấp dưới. Ủy ban Kiểm tra Liên đoàn Lao động tỉnh thực hiện kiểm tra 14 cuộc đối với công đoàn cấp trên cơ sở cho thấy công đoàn các cấp đã tập trung kinh phí tổ chức các phong trào có hiệu quả; chứng từ, sổ sách kế toán đầy đủ, thực hiện các khoản chi đúng quy định của Nhà nước và Tổng Liên đoàn. Công tác quản lý tài chính, tài sản chặt chẽ, sử dụng ngân sách công đoàn ngày càng hiệu quả. Ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tài chính, tài sản công đoàn; lựa chọn nội dung, phương pháp kiểm tra phù hợp với điều kiện thực tế của từng đơn vị. Giải quyết và tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo. Ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã thực hiện tốt công tác tiếp đoàn viên, cán bộ, công chức, viên chức, lao động; tiếp nhận đơn thư, giải quyết và tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo theo đúng trình tự quy định. Công tác tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cán bộ kiểm tra. Ủy ban Kiểm tra Liên đoàn Lao động tỉnh đã chỉ đạo ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp tổ chức tập huấn, bồi dưỡng về nghiệp vụ kiểm tra cho cán bộ làm công tác kiểm tra của nhiệm kỳ mới và biên soạn bài giảng công tác kiểm tra giúp cho công đoàn các cấp có tài liệu phục vụ tập huấn ở cấp mình. Trong 6 tháng đầu năm, công đoàn các cấp đã tập huấn nghiệp vụ cho 563 cán bộ ủy ban kiểm tra. Thông qua công tác kiểm tra, ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã có nhiều kiến nghị đề xuất với ban chấp hành, ban thường vụ công đoàn cùng cấp và cấp trên kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những thiếu sót tồn tại trong công tác tổ chức, triển khai các hoạt động, quản lý, điều hành và thực hiện chức năng nhiệm vụ công đoàn ở các cấp. Đồng thời ban chấp hành công đoàn các cấp phải tăng cường quan tâm hơn nữa trong công tác chỉ đạo hoạt động ủy ban kiểm tra cùng cấp và cấp dưới trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch công tác tháng, quý và cả năm để chủ động trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ; tăng cường tổ chức kiểm tra đồng cấp và cấp dưới về chấp hành Điều lệ công đoàn; kiểm tra về quản lý tài chính – tài sản và hoạt động kinh tế công đoàn; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác kiểm tra; thực hiện công tác thông tin, báo cáo. Góp phần nâng cao chất lượng hoạt động và xây dựng tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh, nhằm thực hiện có hiệu quả nghị quyết đại hội công đoàn các cấp và Nghị quyết Đại hội XII Công đoàn tỉnh, nhiệm kỳ 2013 – 2018.                                                                                  Nguyễn Mạnh Hùng                                                                              Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh ...


   Phụ nữ Việt Nam - 86 năm, kết nối truyền thống và sự trưởng thành

    1. Truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã xây dựng nên truyền thống “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào mùa xuân năm 40 sau Công nguyên đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia, đánh đuổi quân Đông Hán, giành quyền tự chủ cho đất  nước, mở đầu  thời kỳ đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm của dân tộc. Bà Triệu Thị Trinh lãnh đạo khởi nghĩa chống ách thống trị của nhà Ngô năm 248 với câu nói nổi tiếng  ”Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm  tì thiếp cho người”. Hình ảnh kiên cường, bất khuất của Nữ tướng Bùi Thị Xuân trong phong trào nông dân Tây Sơn thế kỷ 17 và tiếp theo là bà Ba Cai Vàng, bà Ba Đề Thám, bà Đinh phu nhân, cô Bắc, cô Giang trong phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX tiếp tục khẳng định truyền thống yêu nước, sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập dân tộc của phụ nữ Việt Nam. Lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam đã khẳng định phụ nữ Việt Nam là lực lượng quan trọng trong lao động sản xuất với những phẩm chất cần cù, đảm đang, thông minh, sáng tạo. Hình ảnh thường ngày về người phụ nữ Việt Nam cần cù lao động được ghi lại đậm nét trong lịch sử nước nhà: “sớm ra ruộng lúa, tối về nương dâu”, “vai vác cái cày, tay đuổi con trâu, cái cuốc cho lẫn cái gầu, con dao rựa phát đèo đầu gánh phân”…Nhiều ngành nghề sản xuất truyền thống được lưu truyền bằng những truyền thuyết, hình ảnh gắn liền với người phụ nữ như trồng dâu dệt lụa, làm gốm, trồng lúa….Trong từng giai đoạn lịch sử, đặc biệt vào những giai đoạn cam go của cách mạng giải phóng dân tộc, phụ nữ không chỉ lo đảm đương công việc sản xuất, tích trữ lương thực cho gia đình mà còn hăng hái sản xuất, vận chuyển lương thực, nhu yếu phẩm, đạn dược ra tiền tuyến. Không chỉ là lực lượng quan trọng trong lao động sản xuất, phụ nữ còn có khả năng tham gia quản lý xã hội và tổ chức hậu cần, xây dựng hậu phương trong các cuộc kháng chiến như: Thái hậu Dương Vân Nga (thế kỷ X) đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích gia đình, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chuyển giao quyền lực từ nhà Đinh sang nhà Tiền Lê, góp phần bảo vệ nền độc lập dân tộc, chiến thắng quân Tống xâm lược; Nguyên phi Ỷ Lan (thế kỷ XI) - 2 lần làm Nhiếp chính  (thay vua điều hành triều đình), giữ hậu phương vững  chắc  để chồng (Vua Lý Thánh  Tông) yên tâm đánh giặc và giúp con (Vua Lý Nhân Tông) sử dụng người tài, quản lý đất nước, giữ vững nền độc lập dân tộc; Bà Lý Thị Châu (Bà chúa Kho) vào thế   kỷ XIII đã chỉ huy quân sĩ bảo vệ kho lương thực, nhu yếu phẩm, lo việc hậu cần cho binh sỹ, để chồng yên tâm ra trận mạc…Trong suốt hai cuộc kháng chiến cho đến  khi hòa bình, đã xuất hiện nhiều phong trào thi đua sản xuất như “Sóng Duyên hải”, “Gió Đại Phong”, “Cờ Ba Nhất”, những “Cánh đồng năm tấn”, “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình”, “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”... được phát động minh chứng cho truyền thống cần cù, tinh thần hăng say lao động, thông minh, sáng tạo của phụ nữ trên mặt trận sản  xuất. Phụ nữ Việt Nam vừa là người sáng tạo, vừa là người gìn giữ, bảo vệ truyền thống văn hóa dân tộc và lưu truyền các giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác như: Dân ca Nam bộ, Quan họ Bắc Ninh, chèo vùng đồng bằng Bắc bộ, dân ca Nghệ - Tĩnh, tuồng và dân ca Trung bộ, các làn điệu dân ca, vũ hội của các dân tộc miền núi và trung du. Lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam đã ghi nhận những phụ nữ tài cao, học rộng, sáng tác văn học nghệ thuật, tham gia trong lĩnh vực giáo dục, văn hóa như bà Nguyễn Thị Lộ, Bà Huyện Thanh Quan, nữ sĩ Hồ Xuân Hương, thi sĩ Đoàn Thị Điểm… Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định : “Non song gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ…”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nữ đại biểu tại Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc  lần thứ III, tháng 9-1960 - Ảnh: Tư liệu 2. Phong trào phụ nữ từ khi thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (từ 20/10/21930 đến nay) - Phong trào phụ nữ từ khi thành lập Đảng đến Cách mạng tháng Tám (1930 -1945) Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức phụ nữ lần lượt ra đời nhằm quy tụ sức mạnh đoàn kết của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam:  Hội Phụ nữ Phản đế Đông Dương (1930), Hội Phụ nữ Dân chủ (1936), Đoàn Phụ nữ Cứu quốc (1941-1945). Trong cao trào cách mạng 1930- 1931, phụ nữ là lực lượng đông đảo trong các cuộc mít tinh, biểu tình, tuần hành…đấu tranh đòi giảm sưu thuế và đòi quyềtự do dân chủ. Tại nhiều địa phương, phong trào phụ nữ phát triển mạnh mẽ cùng với phong trào cách mạng sôi nổi, phụ nữ đã tập hợp thành tổ chức với các tên gọi như: “Hội Phụ nữ giải phóng”, “Phụ nữ Hiệp Hội”. Trong cao trào cách mạng, nhiều phụ nữ đã trưởng thành như chị Nguyễn Thị Thập tham gia Xứ ủy Nam kỳ, chị Nguyễn Thị Hiếu – tỉnh ủy viên Thái  Bình… Ở thời kỳ vận động dân chủ 1936 - 1939, phụ nữ tham gia đấu tranh công khai,tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin và chủ trương, đường lối đấu tranh cách mạng và công tác vận động phụ nữ của Đảng. Quần chúng phụ nữ được tập hợp trong những tổ chức phù hợpvới ngành nghề và điều kiện sinh hoạt, trong đó “Hội Phụ nữ dân chủ” và “Hội Phụ nữ giải phóng” làm nòng cốt vận động, tập hợp các tầng lớp phụ nữ đấu tranh đòi các quyền tự do, dân chủ và hòa bình. Trong thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền (1939 - 1945), “Hội Phụ nữ phản đế”, “Đoàn Phụ nữ cứu quốc”động viên phụ nữ gia nhập Mặt  trận Việt Minh, tham gia các đội vũ trang tuyên truyền.Qua đấu tranh cách mạng, lực lượng phụ nữ đã từng bước trưởng thành, góp phần quan trọng trong Tổng Khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945. Ngày 20/10/1946, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chính thức được thành lập trên cơ sở các tổ chức phụ nữ tiền thân và sau đó gia nhập Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Quốc tế nhằm tranh thủ sự ủng hộ của phụ nữ quốc tế cho cuộc kháng chiến của dân tộc. Trong giai đoạn này 2 tổ chức phụ nữ cùng song song tồn tại và hoạt động đến năm 1950, trước tình hình mới, dưới sự chỉ đạo của Đảng, Đoàn Phụ nữ Cứu quốc và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam hợp nhất thành một tổ chức, tạo nên sức mạnh đoàn kết các tầng lớp phụ nữ Việt Nam. - Phong trào phụ nữ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946-1954) Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng vừa được thành lập đã phải đối phó với tình thế khó khăn, “thù trong, giặc ngoài”.Các tầng lớp phụ nữ Việt Nam đã tích cực tuyên truyền và thực hiện cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; hăng hái hưởng ứng phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, tích cực đóng góp trong “Tuần lễ vàng” và tham gia phong trào “Bình dân học vụ” xoá nạn mù chữ; gia nhập lực lượng dân quân tự vệ, tích cực tham gia đấu tranh với nhiều hình thức làm thất bại âm mưu bạo loạn, giữ vững thành quả cách mạng. Hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 19/12/1946, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã động viên các tầng lớp phụ nữ tích cực tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ở vùng hậu phương, phụ nữ là lực lượng chủ yếu  trong lao động sản xuất, bảo đảm đời sống nhân dân và đáp ứng nhu cầu “Hậu cần tại chỗ” phục vụ quân đội, góp phần chi viện tiền tuyến đánh thắng giặc Pháp. Trong vùng địch tạm chiếm, phụ nữ là lực lượng đấu tranh quan trọng, thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, vận động nhân dân tin tưởng vào đường lối kháng chiến của Đảng, tạo mọi điều kiện ủng hộ cuộc kháng chiến. Sự tham gia đông đảo của các tầng lớp phụ nữ trong sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu đã góp phần to lớn vào thắng lợi Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ngày 7/5/1954. - Phong trào phụ nữ trong cách mạng dân tộc, dân chủ chống đế quốc Mỹ và tay sai ở miền Nam (1954-1975) Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã kết thúc cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạm thời dưới ách thống trị của đế quốc và tay sai. Thời kỳ này, Đảng đã lãnh đạo cả nước tiến hành đồng thời 2 nhiệm vụ cách mạng chiến lược: Miền Bắc tiến hành cách mạng XHCN, miền Nam tiếp tục cách mạng giải phóng dân tộc dân chủ nhân dân để giải phóng miền Nam thống nhất đất  nước. Từ năm 1954 đến năm 1975, phong trào phụ nữ đã xác định những nội dung hoạt động phù hợp với đặc điểm tình hình cách  mạng của hai miền Nam, Bắc. Tại miền Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam đã phát động hàng ngàn cuộc đấu tranh chính trị lớn nhỏ, huy động nhiều tầng lớp phụ nữ tham gia biểu tình phản đối tội ác của Mỹ - Ngụy. Năm 1960, “Đội quân tóc dài” ra đời trong phong trào Đồng khởi ở Bến Tre và đã phát triển rộng khắp trong toàn miền Nam, thu hút hàng triệu chị em phụ nữ tham gia vào cả “ba mũi giáp công” (đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận), góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Phong  trào phụ nữ Miền Nam đã vinh dự được TW Đảng tặng 8 chữ vàng: "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” . - Phong trào phụ nữ trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ, cứu nước ở miền Bắc  (1954-1975) Năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bắt tay vào cách mạng XHCN, xây dựng CNXH, làm nhiệm vụ chi viện của “hậu phương lớn”cho “tiền tuyến lớn”. Năm 1961, Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ II đã tổng kết những hoạt động chủ yếu của phong trào phụ nữ và thông qua Nghị quyết về những nhiệm vụ lớn của phong trào phụ nữ trong giai đoạn mới của cách  mạng. Từ năm 1961 đến 1965, phụ nữ hăng hái hưởng ứng “Phong trào thi đua 5 tốt” do Trung ương Hội LHPN Việt Nam phát động với các nội dung: 1. Đoàn kết sản xuất tiết kiệm tốt, 2. Chấp hành chính sách tốt, 3. Tham gia quản lý tốt, 4. Học tập chính trị, văn hóa, kỹ thuật tốt, 5. Xây dựng gia đình nuôi dạy con tốt. Tháng 3/1965, Trung ương Hội LHPN Việt Nam phát động phong trào “Ba đảm đang” với nội dung: Đảm đang sản xuất thay chồng con đi chiến đấu, đảm  đang gia đình để chồng con yên tâm công tác, đảm đang sẵn sàng chiến đấu khi cần thiết. Phong trào nhằm động viên phụ nữ tích cực sản xuất và công tác, đảm đang trong gia đình để chồng con lên đường chiến đấu. Phụ nữ tại các địa phương đã thực hiện “Tay búa, tay súng”, “Tay cày, tay súng” trong sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu quyết tâm hoàn thành xuất sắc kế hoạch nhà nước. Phụ nữ tham gia ngày càng nhiều trong công tác quản lý, lãnh đạo (từ tổ, đội sản xuất, hợp tác xã, nhà máy và hệ thống quản lý hành chính)chị em không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, nâng cao năng lực để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách  mạng. Phong trào “Ba đảm đang” được thực hiện từ năm 1965 đến 1975 đã động viên kịp thời các tầng lớp phụ nữ hăng hái lao động sản xuất và công tác, chăm lo gia đình, sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu, thiết thực góp phần vào thắng lợi của kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1974, Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ IV đã đề ra những nhiệm vụ của phong trào phụ nữ cả nước trong nhiệm kỳ, với nội dung chủ yếu: Xây dựng người phụ nữ XHCN, làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn đối với miền Nam và cải tiến chỉ đạo, chuyển mạnh phương thức hoạt động của Hội. - Phong trào phụ nữ trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (1975-1986) Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước độc lập thống nhất, thực hiện xây dựng CNXH. Cùng với nhân dân, phụ nữ cả nước tích cực tham gia thực hiện những nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước. Trước yêu cầu, nhiệm vụ mới của Cách mạng Việt Nam, năm 1976, Hội  nghị hợp nhất tổ chức phụ nữ 2 miền Nam - Bắc đã quyết định thống nhất 2 tổ chức phụ nữ ở 2 miền thành Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và lấy ngày 20/10/1930 là Ngày Thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt  Nam. Từ năm 1978, Trung ương Hội LHPN Việt Nam đã phát động phong trào thi đua “Người Phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, thực hiện “Giỏi việc nước, đảm việc nhà, phấn đấu thực hiện nam nữ bình đẳng”. Chị em thi đua lao động sản xuất, công tác, thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, tích cực chăm lo quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. Phong trào được duy trì khoảng 10 năm, đã góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị và quyền dân chủ, bình đẳng, chăm lo quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. - Phong trào Phụ nữ trong công cuộc đổi mới đất nước  (1986-2012): Từ năm 1989, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã phát động phụ nữ cả nước hưởng ứng hai cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình” và “Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học”. Chị em đã phát huy truyền thống đoàn kết, tương trợ trong lao động sản xuất, tổ chức tốt cuộc sống gia đình, phấn đấu nâng cao trình độ về mọi mặt, tích cực tham gia trong các lĩnh vực xã hội, thực hiện nhiệm vụ xây dựng và đổi mới đất nước. Năm 1992, Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ VII đã cụ thể hóa các nội dung hoạt động thành “5 chương trình trọng tâm”. Qua 5 năm thực hiện (1992-1997), 5 chương trình trọng tâm được các tầng lớp phụ nữ trong cả nước tích cực hưởng ứng, được Đảng, chính quyền các cấp đánh giá là thiết thực, hiệu quả, góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã  hội. Năm 1997, Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ VIII (1997-2002) khẳng định tiếp tục thực hiện 5 chương trình trọng tâm. Đại hội phát động phụ nữ cả nước thực hiện hai phong trào thi đua yêu nước: “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất  nước”. Năm 2002, Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ IX đã phát động phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và đề ra mục tiêu, nhiệm vụ với 6 chương trình hoạt động trọng tâm của phong trào phụ nữ giai đoạn 2002 - 2007. Năm 2007, Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ X tiếp tục phát động các tầng lớp phụ nữ hưởng ứng phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” gắn kết với Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đại hội đã đề ra mục tiêu, 6 nhiệm vụ, giải pháp của phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nhiệm kỳ 2007-2012. Năm 2012, Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XI đã phát động các tầng lớp phụ nữ tiếp tục thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” gắn với đẩy mạnh thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đại hội đã xác định mục tiêu, với 3 khâu đột phá và 6 nhiệm vụ trọng tâm của phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, triển khai tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, phụ nữ rèn luyện phẩm chất đạo đức của phụ nữ Việt Nam thời kỳ CNH- HĐH đất nước: Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm  đang. 3. Từ khi thành lập đến nay, Hội LHPN Việt Nam đã trải qua 11 kỳ đại hội Đại hội Phụ nữ Việt Nam lần thứ nhất được tổ chức vào năm 1950 (nhiệm kỳ 1950-1956) tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Từ đó đến nay, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã tổ chức thành công 11 kỳ Đại hội. Các Chủ tịch Hội  Liên  hiệp Phụ nữ Việt Nam qua các nhiệm kỳ là: + Khoá I (Nhiệm kỳ 1950-1956): Bà Lê Thị  Xuyến + Khoá II (Nhiệm kỳ 1956 -1961): Bà Nguyễn Thị Thập + Khoá III (Nhiệm kỳ 1961- 1974): Bà Nguyễn Thị Thập + Khoá IV (Nhiệm kỳ 1974 - 1982): Bà Hà Thị Quế + Khoá V (Nhiệm kỳ 1982 - 1987): Bà Nguyễn Thị Định + Khoá VI (Nhiệm kỳ 1987 - 1992): Bà Nguyễn Thị Định + Khoá VII (Nhiệm kỳ 1992 - 1997): Bà Trương Mỹ Hoa + Khoá VIII (Nhiệm kỳ 1997 - 2002): Bà Trương Mỹ Hoa (năm 1997) và Bà  Hà Thị Khiết (1998 - 2002) + Khoá IX (Nhiệm kỳ 2002 - 2007): Bà Hà Thị Khiết + Khoá X (Nhiệm kỳ 2007 - 2012): Bà Nguyễn Thị Thanh Hòa + Khoá XI (Nhiệm kỳ 2012 - 2017): Bà Nguyễn Thị Thanh Hòa (Theo Tài liệu Giáo dục Chính trị, Tư tưởng của TW Hội LHPN VN)  ...
  • VĂN BẢN MỚI

  • Nhà nước

  • Tổng LĐLĐ

  • LĐLĐ tỉnh



   Quyết định ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 09 tháng 01 năm 2016 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI

Văn bản số: 1934/QĐ-TTg | Ban hành ngày: 2016-10-10
    Quyết định ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 09 tháng 01 năm 2016 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI
  • TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM

  • Công tác công đoàn

  • Lĩnh vực khác



   Hướng dẫn hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động

    Ngày 15/5/2016, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành Nghị định số 44/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật an toàn, vệ sinh lao động về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và quan trắc môi trường lao động. Theo Nghị định này, công tác huấn luyện an toàn lao động có nhiều điểm mới so với Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH như sau: 1. Về đối tượng được huấn luyện an toàn lao động Trong Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH có 4 nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động. Tuy nhiên, trong Nghị định số 44 có tới 6 nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động. 2 nhóm đối tượng mới bao gồm nhóm 5: người làm công tác y tế và nhóm 6: an toàn, vệ sinh viên theo điều 74 Luật an toàn, vệ sinh lao động.  Nhóm 1: Người quản lý phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: a) Người đứng đầu đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh và phòng, ban, chi nhánh trực thuộc; phụ trách bộ phận sản xuất, kinh doanh, kỹ thuật; quản đốc phân xưởng hoặc tương đương; b) Cấp phó của người đứng đầu theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này được giao nhiệm vụ phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động.  Nhóm 2: Người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: a) Chuyên trách, bán chuyên trách về an toàn, vệ sinh lao động của cơ sở; b) Người trực tiếp giám sát về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Nhóm 3: Người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động là người làm công việc thuộc Danh mục công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành. Nhóm 4: Người lao động không thuộc các nhóm theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều này, bao gồm cả người học nghề, tập nghề, thử việc để làm việc cho người sử dụng lao động. Nhóm 5: Người làm công tác y tế.  Nhóm 6: An toàn, vệ sinh viên theo quy định tại Điều 74 Luật an toàn, vệ sinh lao động. 2. Về nội dung huấn luyện Trong Nghị định số 44, nội dung huấn luyện an toàn lao động cho các nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động được quy định chặt chẽ hơn, chi tiết hơn so với Thông tư số 27/2013/TT-BLĐTBXH.  Huấn luyện nhóm 1 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh. Huấn luyện nhóm 2 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; xây dựng nội quy, quy chế, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; xây dựng, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch an toàn, vệ sinh lao động hằng năm; phân tích, đánh giá rủi ro và xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp; xây dựng hệ thống quản lý về an toàn, vệ sinh lao động; nghiệp vụ công tác tự kiểm tra; công tác điều tra tai nạn lao động; những yêu cầu của công tác kiểm định, huấn luyện và quan trắc môi trường lao động; quản lý máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; hoạt động thông tin, tuyên truyền, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động; sơ cấp cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp cho người lao động; công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật, thống kê, báo cáo công tác an toàn, vệ sinh lao động; c) Nội dung huấn luyện chuyên ngành: Kiến thức tổng hợp về máy, thiết bị, vật tư, chất phát sinh yếu tố nguy hiểm, có hại; quy trình làm việc an toàn với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động.  Huấn luyện nhóm 3 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động: Chính sách, chế độ về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và phương pháp cải thiện điều kiện lao động; chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; nội quy an toàn, vệ sinh lao động, biển báo, biển chỉ dẫn an toàn, vệ sinh lao động và sử dụng thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân; nghiệp vụ, kỹ năng sơ cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp; c) Nội dung huấn luyện chuyên ngành: Kiến thức tổng hợp về máy, thiết bị, vật tư, chất phát sinh các yếu tố nguy hiểm, có hại và phương pháp phân tích, đánh giá, quản lý rủi ro liên quan đến công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động mà người được huấn luyện đang làm; quy trình làm việc an toàn, vệ sinh lao động; kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động liên quan đến công việc của người lao động.  Huấn luyện nhóm 4 a) Kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động: Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động, người lao động; chính sách, chế độ về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và phương pháp cải thiện điều kiện lao động; chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; nội quy an toàn, vệ sinh lao động, biển báo, biển chỉ dẫn an toàn, vệ sinh lao động và sử dụng các thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân, nghiệp vụ, kỹ năng sơ cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp. b) Huấn luyện trực tiếp tại nơi làm việc: Quy trình làm việc và yêu cầu cụ thể về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.  Huấn luyện nhóm 5 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; c) Huấn luyện cấp Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động: Yếu tố có hại tại nơi làm việc; tổ chức quan trắc môi trường lao động để đánh giá yếu tố có hại; lập hồ sơ vệ sinh lao động tại nơi làm việc; các bệnh nghề nghiệp thường gặp và biện pháp phòng chống; cách tổ chức khám bệnh nghề nghiệp, khám bố trí việc làm, chuẩn bị hồ sơ giám định bệnh nghề nghiệp; tổ chức và kỹ năng sơ cứu, cấp cứu; phòng chống dịch bệnh tại nơi làm việc; an toàn thực phẩm; quy trình lấy và lưu mẫu thực phẩm; tổ chức thực hiện bồi dưỡng hiện vật và dinh dưỡng cho người lao động; nâng cao sức khỏe nơi làm việc, phòng chống bệnh không lây nhiễm tại nơi làm việc; kiến thức, kỹ năng, phương pháp xây dựng kế hoạch, phương án, trang bị phương tiện và điều kiện cần thiết để thực hiện công tác vệ sinh lao động; phương pháp truyền thông giáo dục về vệ sinh lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp; lập và quản lý thông tin về vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp tại nơi làm việc; lập và quản lý hồ sơ sức khỏe người lao động, hồ sơ sức khỏe của người bị bệnh nghề nghiệp. Công tác phối hợp với người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động hoặc bộ phận quản lý công tác an toàn, vệ sinh lao động để thực hiện nhiệm vụ liên quan theo quy định tại Điều 72 Luật an toàn, vệ sinh lao động. Huấn luyện nhóm 6 Người lao động tham gia mạng lưới an toàn, vệ sinh viên ngoài nội dung huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động theo quy định còn được huấn luyện bổ sung về kỹ năng và phương pháp hoạt động của an toàn, vệ sinh viên. 3. Về thời gian huấn luyện an toàn lao động Giống thông tư số 27, thời gian huấn luyện an toàn lao động theo quy định cho nhóm 1 và 4 vẫn giữ nguyên, tối thiểu 16 tiếng; nhóm 2 tối thiểu 48 tiếng. Tuy nhiên với nhóm 3, thời gian huấn luyện tối thiểu đã giảm từ 30 tiếng xuống 24 tiếng. Đặc biệt, nghị định số 44 có quy định thời gian huấn luyện tối thiểu với nhóm 5 và 6 lần lượt là 56 tiếng và 4 tiếng. 4. Về giấy chứng nhận, chứng chỉ an toàn lao động Theo quy định trong Thông tư số 27: – Nhóm 1 sẽ được cấp Chứng nhận huấn luyện (thời hạn 2 năm) – Nhóm 2, 3 là Chứng chỉ huấn luyện (thời hạn 5 năm) – Nhóm 4 sẽ được ghi kết quả huấn luyện vào sổ theo dõi công tác huấn luyện tại cơ sở. Tuy nhiên với Nghị định số 44, ngoài nhóm 4 được giữ nguyên, các nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động đều có thay đổi: – Sau khi hoàn thành khóa học và thông qua kiểm tra, sát hạch, nhóm 1, 2, 5, 6 đều được nhận Chứng nhận huấn luyện an toàn lao động với thời hạn 2 năm. – Với nhóm 3 những người lao động thường xuyên làm việc trong môi trường có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động sẽ được cấp thẻ an toàn lao động có thời hạn 2 năm. – Với nhóm 5, ngoài Chứng nhận huấn luyện an toàn lao động còn được cấp Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động(thời hạn 5 năm). Nội dung hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động được quy định trong Chương 3 của Nghị định. Chương này gồm 16 điều (điều 17 đến điều 32) chia làm 5 mục. Mục 1. Đối tương, nội dung và yêu cầu chung trong hoạt động huấn luyện.Gồm 5 điều (từ điều 17 đến điều 21) quy định đối tượng tham dự khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, nội dung huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, thời gian huấn luyện, chương trình khung và chương trình, tài liệu huấn luyện, huấn luyện, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng về an toàn, vệ sinh lao động và huấn luyện định kỳ. Mục 2. Người huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.Gồm 2 điều (điều 22, điều 23) quy định tiêu chuẩn người huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, xác định thời gian đã làm việc hoặc thời gian đã làm công việc huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động. Mục 3. Giấy chứng nhận huấn luyện, thẻ an toàn và chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động.Gồm 2 điều (điều 24, điều 25) quy định quản lý việc cấp Giấy chứng nhận huấn luyện, Thẻ an toàn, và Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động, thời hạn cấp, cấp mới Giấy chứng nhận huấn luyện, Thẻ an toàn, Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động. Mục 4. Tổ chức huấn luyện, doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.Gồm 6 điều (điều 26 đến điều 31) quy định phân loại tổ chức huấn luyện và điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động, thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động của Tổ chức huấn luyện, hồ sơ, thủ tục cấp mới, cấp lại, gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động của Tổ chức huấn luyện, công nhận cơ sở y tế đủ điều kiện huấn luyện cấp chứng chỉ chứng nhận về y tế lao động, doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, mẫu, thời hạn cấp mới, cấp lại, gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động. Mục 5. Huấn luyện cho người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động, quy định chi tiết hỗ trợ huấn luyện người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động. Theo đó đối tượng được ưu tiên hỗ trợ chi phí huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động là người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng và thân nhân chủ yếu của người có công với cách mạng làm việc không theo hợp đồng lao động khi làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động. Về nguyên tắc hỗ trợ được quy định: - Hỗ trợ chi phí huấn luyện 01 lần đối với 01 công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; - Tham gia đầy đủ chương trình huấn luyện và sát hạch đạt yêu cầu, được cấp Thẻ an toàn; - Hỗ trợ trực tiếp cho người lao động hoặc thông qua Tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động. Cũng theo quy định này mức hỗ trợ theo chi phí thực tế của khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động nhưng không quá 50% mức lương cơ sở/người/khóa huấn luyện theo quy định của Chính phủ tại thời điểm huấn luyện. Nguồn kinh phí hỗ trợ được bố trí trong dự toán chi thường xuyên của cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành. ...


   Hướng dẫn hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động

    Ngày 15/5/2016, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành Nghị định số 44/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật an toàn, vệ sinh lao động về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và quan trắc môi trường lao động. Theo Nghị định này, công tác huấn luyện an toàn lao động có nhiều điểm mới so với Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH như sau: 1. Về đối tượng được huấn luyện an toàn lao động Trong Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH có 4 nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động. Tuy nhiên, trong Nghị định số 44 có tới 6 nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động. 2 nhóm đối tượng mới bao gồm nhóm 5: người làm công tác y tế và nhóm 6: an toàn, vệ sinh viên theo điều 74 Luật an toàn, vệ sinh lao động.  Nhóm 1: Người quản lý phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: a) Người đứng đầu đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh và phòng, ban, chi nhánh trực thuộc; phụ trách bộ phận sản xuất, kinh doanh, kỹ thuật; quản đốc phân xưởng hoặc tương đương; b) Cấp phó của người đứng đầu theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này được giao nhiệm vụ phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động.  Nhóm 2: Người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: a) Chuyên trách, bán chuyên trách về an toàn, vệ sinh lao động của cơ sở; b) Người trực tiếp giám sát về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Nhóm 3: Người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động là người làm công việc thuộc Danh mục công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành. Nhóm 4: Người lao động không thuộc các nhóm theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều này, bao gồm cả người học nghề, tập nghề, thử việc để làm việc cho người sử dụng lao động. Nhóm 5: Người làm công tác y tế.  Nhóm 6: An toàn, vệ sinh viên theo quy định tại Điều 74 Luật an toàn, vệ sinh lao động. 2. Về nội dung huấn luyện Trong Nghị định số 44, nội dung huấn luyện an toàn lao động cho các nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động được quy định chặt chẽ hơn, chi tiết hơn so với Thông tư số 27/2013/TT-BLĐTBXH.  Huấn luyện nhóm 1 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh. Huấn luyện nhóm 2 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; xây dựng nội quy, quy chế, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; xây dựng, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch an toàn, vệ sinh lao động hằng năm; phân tích, đánh giá rủi ro và xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp; xây dựng hệ thống quản lý về an toàn, vệ sinh lao động; nghiệp vụ công tác tự kiểm tra; công tác điều tra tai nạn lao động; những yêu cầu của công tác kiểm định, huấn luyện và quan trắc môi trường lao động; quản lý máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; hoạt động thông tin, tuyên truyền, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động; sơ cấp cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp cho người lao động; công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật, thống kê, báo cáo công tác an toàn, vệ sinh lao động; c) Nội dung huấn luyện chuyên ngành: Kiến thức tổng hợp về máy, thiết bị, vật tư, chất phát sinh yếu tố nguy hiểm, có hại; quy trình làm việc an toàn với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động.  Huấn luyện nhóm 3 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động: Chính sách, chế độ về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và phương pháp cải thiện điều kiện lao động; chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; nội quy an toàn, vệ sinh lao động, biển báo, biển chỉ dẫn an toàn, vệ sinh lao động và sử dụng thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân; nghiệp vụ, kỹ năng sơ cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp; c) Nội dung huấn luyện chuyên ngành: Kiến thức tổng hợp về máy, thiết bị, vật tư, chất phát sinh các yếu tố nguy hiểm, có hại và phương pháp phân tích, đánh giá, quản lý rủi ro liên quan đến công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động mà người được huấn luyện đang làm; quy trình làm việc an toàn, vệ sinh lao động; kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động liên quan đến công việc của người lao động.  Huấn luyện nhóm 4 a) Kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động: Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động, người lao động; chính sách, chế độ về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và phương pháp cải thiện điều kiện lao động; chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; nội quy an toàn, vệ sinh lao động, biển báo, biển chỉ dẫn an toàn, vệ sinh lao động và sử dụng các thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân, nghiệp vụ, kỹ năng sơ cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp. b) Huấn luyện trực tiếp tại nơi làm việc: Quy trình làm việc và yêu cầu cụ thể về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.  Huấn luyện nhóm 5 a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; c) Huấn luyện cấp Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động: Yếu tố có hại tại nơi làm việc; tổ chức quan trắc môi trường lao động để đánh giá yếu tố có hại; lập hồ sơ vệ sinh lao động tại nơi làm việc; các bệnh nghề nghiệp thường gặp và biện pháp phòng chống; cách tổ chức khám bệnh nghề nghiệp, khám bố trí việc làm, chuẩn bị hồ sơ giám định bệnh nghề nghiệp; tổ chức và kỹ năng sơ cứu, cấp cứu; phòng chống dịch bệnh tại nơi làm việc; an toàn thực phẩm; quy trình lấy và lưu mẫu thực phẩm; tổ chức thực hiện bồi dưỡng hiện vật và dinh dưỡng cho người lao động; nâng cao sức khỏe nơi làm việc, phòng chống bệnh không lây nhiễm tại nơi làm việc; kiến thức, kỹ năng, phương pháp xây dựng kế hoạch, phương án, trang bị phương tiện và điều kiện cần thiết để thực hiện công tác vệ sinh lao động; phương pháp truyền thông giáo dục về vệ sinh lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp; lập và quản lý thông tin về vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp tại nơi làm việc; lập và quản lý hồ sơ sức khỏe người lao động, hồ sơ sức khỏe của người bị bệnh nghề nghiệp. Công tác phối hợp với người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động hoặc bộ phận quản lý công tác an toàn, vệ sinh lao động để thực hiện nhiệm vụ liên quan theo quy định tại Điều 72 Luật an toàn, vệ sinh lao động. Huấn luyện nhóm 6 Người lao động tham gia mạng lưới an toàn, vệ sinh viên ngoài nội dung huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động theo quy định còn được huấn luyện bổ sung về kỹ năng và phương pháp hoạt động của an toàn, vệ sinh viên. 3. Về thời gian huấn luyện an toàn lao động Giống thông tư số 27, thời gian huấn luyện an toàn lao động theo quy định cho nhóm 1 và 4 vẫn giữ nguyên, tối thiểu 16 tiếng; nhóm 2 tối thiểu 48 tiếng. Tuy nhiên với nhóm 3, thời gian huấn luyện tối thiểu đã giảm từ 30 tiếng xuống 24 tiếng. Đặc biệt, nghị định số 44 có quy định thời gian huấn luyện tối thiểu với nhóm 5 và 6 lần lượt là 56 tiếng và 4 tiếng. 4. Về giấy chứng nhận, chứng chỉ an toàn lao động Theo quy định trong Thông tư số 27: – Nhóm 1 sẽ được cấp Chứng nhận huấn luyện (thời hạn 2 năm) – Nhóm 2, 3 là Chứng chỉ huấn luyện (thời hạn 5 năm) – Nhóm 4 sẽ được ghi kết quả huấn luyện vào sổ theo dõi công tác huấn luyện tại cơ sở. Tuy nhiên với Nghị định số 44, ngoài nhóm 4 được giữ nguyên, các nhóm đối tượng huấn luyện an toàn lao động đều có thay đổi: – Sau khi hoàn thành khóa học và thông qua kiểm tra, sát hạch, nhóm 1, 2, 5, 6 đều được nhận Chứng nhận huấn luyện an toàn lao động với thời hạn 2 năm. – Với nhóm 3 những người lao động thường xuyên làm việc trong môi trường có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động sẽ được cấp thẻ an toàn lao động có thời hạn 2 năm. – Với nhóm 5, ngoài Chứng nhận huấn luyện an toàn lao động còn được cấp Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động(thời hạn 5 năm). Nội dung hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động được quy định trong Chương 3 của Nghị định. Chương này gồm 16 điều (điều 17 đến điều 32) chia làm 5 mục. Mục 1. Đối tương, nội dung và yêu cầu chung trong hoạt động huấn luyện.Gồm 5 điều (từ điều 17 đến điều 21) quy định đối tượng tham dự khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, nội dung huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, thời gian huấn luyện, chương trình khung và chương trình, tài liệu huấn luyện, huấn luyện, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng về an toàn, vệ sinh lao động và huấn luyện định kỳ. Mục 2. Người huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.Gồm 2 điều (điều 22, điều 23) quy định tiêu chuẩn người huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, xác định thời gian đã làm việc hoặc thời gian đã làm công việc huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động. Mục 3. Giấy chứng nhận huấn luyện, thẻ an toàn và chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động.Gồm 2 điều (điều 24, điều 25) quy định quản lý việc cấp Giấy chứng nhận huấn luyện, Thẻ an toàn, và Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động, thời hạn cấp, cấp mới Giấy chứng nhận huấn luyện, Thẻ an toàn, Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động. Mục 4. Tổ chức huấn luyện, doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.Gồm 6 điều (điều 26 đến điều 31) quy định phân loại tổ chức huấn luyện và điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động, thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động của Tổ chức huấn luyện, hồ sơ, thủ tục cấp mới, cấp lại, gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động của Tổ chức huấn luyện, công nhận cơ sở y tế đủ điều kiện huấn luyện cấp chứng chỉ chứng nhận về y tế lao động, doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, mẫu, thời hạn cấp mới, cấp lại, gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động. Mục 5. Huấn luyện cho người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động, quy định chi tiết hỗ trợ huấn luyện người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động. Theo đó đối tượng được ưu tiên hỗ trợ chi phí huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động là người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng và thân nhân chủ yếu của người có công với cách mạng làm việc không theo hợp đồng lao động khi làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động. Về nguyên tắc hỗ trợ được quy định: - Hỗ trợ chi phí huấn luyện 01 lần đối với 01 công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; - Tham gia đầy đủ chương trình huấn luyện và sát hạch đạt yêu cầu, được cấp Thẻ an toàn; - Hỗ trợ trực tiếp cho người lao động hoặc thông qua Tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động. Cũng theo quy định này mức hỗ trợ theo chi phí thực tế của khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động nhưng không quá 50% mức lương cơ sở/người/khóa huấn luyện theo quy định của Chính phủ tại thời điểm huấn luyện. Nguồn kinh phí hỗ trợ được bố trí trong dự toán chi thường xuyên của cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành. ...


   “Đồng sức, đồng lòng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách để phát triển DN nhanh và bền vững"

    Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh Bình Định tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ VI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 trong 3 ngày từ 26 - 28/8/2015 vào thời điểm đất nước có nhiều sự kiện lịch sử chính trị trọng đại. Với tinh thần quyết tâm “Xây dựng Đảng bộ thực sự trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; đồng sức, đồng lòng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách để phát triển doanh nghiệp nhanh và bền vững, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định”. Đại hội lần này có nhiệm vụ đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Khối lần thứ V, đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2015 – 2020, bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa VI, bầu đoàn đại biểu dự Đại hội XIX Đảng bộ tỉnh và tham gia đóng góp các văn kiện Đại hội cấp trên. Trong 5 năm qua, Đảng bộ đã hoạt động trong điều kiện những thuận lợi và khó khăn đan xen. Đảng và Nhà nước có đường lối chủ trương đúng đắn, có những giải pháp hữu hiệu để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh xúc tiến, thu hút đầu tư được một số dự án có tính động lực cho phát triển khu kinh tế, khu công nghiệp; tổ chức tốt công tác bồi thường giải phóng mặt bằng phục vụ các dự án; xây dựng đồng bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật thiết yếu của Khu kinh tế; Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng chịu sự tác động không nhỏ của tình hình kinh tế, chính trị thế giới với nhiều biến động, bất ổn, nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới; một số doanh nghiệp vốn ít, công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh thấp, giá cả nguyên, nhiên, vật liệu vẫn còn ở mức cao; thị trường xuất khẩu chưa được khai thông, sức mua của nền kinh tế còn thấp; thiên tai, dịch bệnh, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tác động xấu đến sản xuất, kinh doanh, một số doanh nghiệp phải giải thể hoặc sản xuất cầm chừng, đời sống của cán bộ, công nhân viên, người lao động gặp không ít khó khăn; quá trình lãnh đạo hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước còn nhiều bất cập. Trước tình hình trên, cán bộ, đảng viên và công nhân lao động trong toàn Đảng bộ đã có sự nỗ lực, quyết tâm nắm bắt thời cơ, vượt qua các thách thức, phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Khối lần thứ V, nhiệm kỳ 2010 – 2015 và các Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng. Doanh thu của các doanh nghiệp trong Khối tăng trung bình 19%/năm, nộp ngân sách Nhà nước tăng 25,8%/năm; thu nhập bình quân của người lao động tăng 13,3%/năm; kim ngạch xuất khẩu tăng trên 39,7% gồm các mặt hàng chủ yếu như: khoáng sản, gỗ nội thất, hàng thủy sản đông lạnh, quần áo, giày dép...; lượng khách du lịch tăng từ 10-15%/năm; giao thông vận tải cơ bản đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại, giao lưu; bưu chính viễn thông phát triển, đáp ứng nhu cầu thông tin, giao dịch; sản xuất và cung cấp đủ điện phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt và an ninh quốc phòng, tiếp nhận xong lưới điện nông thôn; sản lượng nước sạch hàng năm tăng 5%; tín dụng ngân hàng tiếp tục thực hiện tốt vai trò huy động vốn và cho vay đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng kịp thời nguồn vốn cho vay đối với các doanh nghiệp, giúp tháo gỡ khó khăn, duy trì và tiếp tục phát triển. Nhiều doanh nghiệp đã quan tâm đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị, mở rộng sản xuất, tạo ra sản phẩm chất lượng, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế, tổng giá trị đầu tư bình quân hàng năm đạt trên 690 tỷ đồng; xây dựng và duy trì hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000, ISO 9001: 2008, ISO 14000 về quản lý chất lượng và quản lý môi trường; HACCP, GMP WHO về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, dược phẩm, thiết bị y tế. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo đúng lộ trình; hầu hết các doanh nghiệp sau khi chuyển đổi thì năng lực hoạt động hiệu quả hơn, tích cực tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; bố trí lại đội ngũ cán bộ quản lý và lực lượng lao động, đổi mới quy trình quản lý, công tác quản trị và điều hành, không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh; bảo toàn và phát triển nguồn vốn; hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước; nâng cao thu nhập cho người lao động v.v.. Công tác văn hóa, xã hội được các cấp ủy, lãnh đạo doanh nghiệp và các đoàn thể quan tâm đúng mức, đời sống văn hóa tinh thần, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp từng bước nâng lên, nhiều doanh nghiệp đạt chuẩn Xanh - Sạch - Đẹp; tổng số tiền các doanh nghiệp đóng góp cho công tác xã hội, nhân đạo, từ thiện đạt 87,5 tỷ đồng; gắn hoạt động sản xuất kinh doanh với công tác bảo vệ môi trường, thường xuyên tuyên truyền và vận động cán bộ, công nhân viên, lao động hưởng ứng các hoạt động ngày môi trường thế giới (05/6), chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn, giờ trái đất, cảnh quan, môi trường xung quanh các đơn vị, doanh nghiệp đều được tổ chức vệ sinh, trồng cây xanh, chỉnh trang hoa viên, cây cảnh tạo môi trường xanh, sạch, đẹp. Công tác quốc phòng, an ninh được tăng cường, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng và củng cố, nâng cao chất lượng lực lượng tự vệ, đủ số lượng, bảo đảm chất lượng theo quy định trong Luật dân quân tự vệ. Hàng năm, lực lượng tự vệ được tổ chức huấn luyện, kiểm tra bắn đạn thật đảm bảo yêu cầu; xây dựng phương án chiến đấu tại chỗ và sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống bất trắc xảy ra; lực lượng bảo vệ trong các đơn vị luôn được củng cố và tăng cường, bố trí tuần tra canh gác 24/24 giờ, đảm bảo giữ gìn tài sản của doanh nghiệp; phối hợp với các lực lượng an ninh trên địa bàn ngăn chặn kịp thời những vụ việc phá hoại sản xuất, trộm cắp tài sản và các tệ nạn xã hội. Công tác phòng cháy chữa cháy thường xuyên được kiểm tra, bổ sung trang thiết bị, đồng thời gắn với công tác vệ sinh công nghiệp và an toàn lao động. Định kỳ hàng năm tổ chức diễn tập đạt chất lượng, nhiều đơn vị đạt thứ hạng cao. Phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc trong các doanh nghiệp, được các cấp ủy đảng quan tâm chỉ đạo, phối hợp với Công an tỉnh Bình Định tổ chức phát động các phong trào nhằm tuyên truyền giáo dục cán bộ, đảng viên, công nhân lao động nhận thức rõ âm mưu diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giáo dục người lao động ý thức bảo mật kinh tế, bí mật quốc gia; kịp thời phát hiện và ngăn chặn các biểu hiện phá hoại, tuyên truyền, kích động gây mất an ninh, góp phần tích cực trong việc bảo vệ an ninh trong đơn vị, doanh nghiệp. Công tác xây dựng Đảng đạt được những kết quả tích cực; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy Đảng từng bước được nâng lên, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới. Việc tổ chức quán triệt các nghị quyết của Đảng được chỉ đạo chặt chẽ, đảm bảo tính nghiêm túc và kịp thời; chú trọng đổi mới về hình thức, phương pháp phù hợp với đặc điểm, điều kiện ở cơ sở; đẩy mạnh “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cùng với tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân Việt Nam, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết, củng cố lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo sự nhất trí về tư tưởng và hành động. Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên được chú trọng, trong nhiệm kỳ có 128 đồng chí được cử đi học cao cấp chính trị; 395 đồng chí học trung cấp chính trị, Đảng ủy Khối mở 01 lớp sơ cấp lý luận chính trị cho 80 cán bộ, đảng viên; 02 lớp hoàn chỉnh chương trình Sơ cấp lý luận chính trị cho 186 đồng chí; xác nhận trình độ tương đương Sơ cấp lý luận chính trị cho 349 đồng chí; 14 lớp đảng viên mới cho 1450 đảng viên mới; 20 lớp nhận thức về Đảng cho 2309 quần chúng ưu tú và 03 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng với 331 đồng chí là cấp ủy viên cơ sở, 01 lớp nâng cao kiến thức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý. Công tác tổ chức, cán bộ có sự chuyển biến tích cực, hầu hết các doanh nghiệp đều có sự sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, đồng bộ, hiệu quả; các doanh nghiệp nhà nước sắp xếp tổ chức lại theo hướng kinh doanh đa ngành nghề. Củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng được tổ chức thực hiện nghiêm túc theo tinh thần Nghị quyết 22-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) về “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên”; triển khai, thực hiện Chỉ thị 12-CT/TU của  Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác xây dựng tổ chức đảng và các đoàn thể trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước đạt kết quả khá. Đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng được triển khai nghiêm túc, đúng quy định, số tổ chức cơ sở đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh bình quân 3 năm đầu nhiệm kỳ là 62,35%, năm thứ tư đạt 55,29% (chỉ tiêu theo hướng dẫn của Trung ương không nên quá 50%), 13 cơ sở Đảng đạt “Trong sạch, vững mạnh tiêu biểu” 03 năm liền (2011 - 2013). Công tác phát triển đảng viên được chú trọng, nhất là tạo nguồn, bồi dưỡng quần chúng ưu tú ở cơ sở. Trong nhiệm kỳ, phát triển được 1129 đảng viên, bình quân mỗi năm đạt 6,92% trên tổng số đảng viên có mặt đầu năm (chỉ tiêu của nghị quyết 6%). Chất lượng đảng viên mới được nâng lên, tập trung phát triển ở các đối tượng là cán bộ khoa học kỹ thuật, là nữ, đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh, công nhân trực tiếp lao động. Các cấp ủy Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo công tác đoàn thể chính trị - xã hội (Công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Cựu chiến binh) phát huy vai trò, hoạt động đúng điều lệ. Ban chấp hành các đoàn thể phát động và tham gia các phong trào thi đua thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực hiện các công trình, phần việc thanh niên, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, lao động giỏi, lao động sáng tạo với năng suất – chất lượng – hiệu quả cao, góp phần hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của đơn vị, đồng thời là chỗ dựa tinh thần của quần chúng; quan tâm, chăm lo bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng chất lượng, hiệu quả. Đ/c Võ Vinh Quang-Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy phát biểu chỉ đạo Đại hội Đảng bộ Khối doanh nghiệp lần thứ VI     Nhìn lại 5 năm qua, Đại hội cũng nghiêm túc nhận thấy còn có những khuyết điểm cần phải khắc phục. Một số cấp ủy Đảng có lúc chưa thật sự chủ động trong việc xây dựng kế hoạch và đề ra các giải pháp kịp thời để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Ở một số doanh nghiệp việc đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ chưa đồng bộ; sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ kéo dài nhưng chậm có giải pháp để khắc phục; việc sắp xếp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước có nơi, có lúc chưa kịp tiến độ kế hoạch đề ra; tạo việc làm mới cho người lao động chủ yếu có tính thời vụ; việc thực hiện chính sách, chế độ cho người lao động chưa nghiêm; giá trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong các khu kinh tế, khu công nghiệp còn thấp.  Một số nơi chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng học tập, quán triệt, cụ thể hóa nghị quyết của Đảng thành kế hoạch, chương trình hành động để tổ chức thực hiện; nội dung và hình thức tuyên truyền giáo dục truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân Việt Nam còn đơn điệu, thiếu tính thuyết phục. Một số cấp ủy thực hiện chưa đúng chế độ sinh hoạt Đảng theo quy định, việc tổ chức sinh hoạt chuyên đề nội dung chưa phong phú, chất lượng chưa cao; kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết TW 4 còn nể nang, e ngại, chậm có kế hoạch, biện pháp sửa chữa, khắc phục khuyết điểm; thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW thời gian đầu còn lúng túng, hình thức, ý thức làm theo mờ nhạt, chưa thực sự trở thành hành động tự giác hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên. Việc thành lập các tổ chức đoàn thanh niên trong các doanh nghiệp ngoài khu vực ngoài nhà nước còn chậm, chưa đáp ứng ưu cầu đặt ra. Những hạn chế, yếu kém trên có nhiều nguyên nhân, trong đó những nguyên nhân chủ quan là: Một số tổ chức cơ sở Đảng chưa phát huy vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh; chưa nắm chắc và dự báo sát tình hình để đề ra các giải pháp phù hợp; quản lý đảng viên lỏng lẻo; tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình không cao; một số cấp ủy viên và đảng viên thiếu gương mẫu, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện quy chế làm việc không nghiêm; đội ngũ cán bộ chưa mạnh và thiếu ổn định; chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của từng cấp ủy viên; vai trò lãnh đạo của ban chấp hành công đoàn, đoàn thanh niên mờ nhạt, chưa thu hút người lao động đến với tổ chức. Nhìn lại 5 năm hoạt động Đại hội VI của Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh Bình Định đã nêu lên một số kinh nghiệm chủ yếu để nhiệm kỳ mới thực hiện thành công Nghị quyết của Đại hội. Một là, trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị phải xây dựng định hướng phát triển chiến lược, nắm bắt và tận dụng thời cơ để đầu tư theo hướng khai thác lợi thế so sánh; phát huy tính tự chủ, giảm thiểu tác động tiêu cực từ bên ngoài. Trên cơ sở đó, chuẩn bị tốt nhân lực, vật lực, triển khai đồng bộ, nhanh chóng đưa dự án, công trình vào hoạt động để khai thác, nâng cao năng suất lao động, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, tăng sức cạnh tranh trên thị trường; bảo đảm duy trì sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp. Hai là, triển khai quán triệt Nghị quyết, Chỉ thị phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện của tổ chức cơ sở đảng trong mỗi loại hình doanh nghiệp. Trong xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết cần xác định trọng tâm, trọng điểm, những lĩnh vực then chốt, gắn với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, doanh nghiệp, từ đó đề ra giải pháp cụ thể, có tính khả thi để tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao nhất. Ba là, chăm lo công tác xây dựng tổ chức đảng, xây dựng quy chế và làm việc; xây dựng khối đoàn kết, thống nhất tư tưởng và hành động trong cán bộ đảng viên; thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức đảng và đảng viên để phát huy nhân tố tích cực, chấn chỉnh kịp thời những sai phạm, khuyết điểm. Thực hiện tốt công tác cán bộ, nhất là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ chủ chốt, đảm bảo tiêu chuẩn, thật sự có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, tâm huyết và trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao. Bốn là, phải gắn việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) với đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc thường xuyên, quan trọng, gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị; đổi mới nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đưa việc tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào nội dung sinh hoạt chi bộ thường kỳ, kiểm điểm cuối năm của tổ chức đảng và đảng viên… Đặc biệt, phải duy trì nề nếp công tác kiểm tra của cấp ủy đối với đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới, nghiêm túc thực hiện việc sơ kết đánh giá định kỳ thực hiện Nghị quyết TW4 gắn với Chỉ thị 03-CT/TW. Năm là, đổi mới phương thức lãnh đạo đối với các đoàn thể chính trị là yếu tố quan trọng trong phát huy dân chủ. Các cấp ủy đảng quan tâm xây dựng tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên và Hội Cựu chiến binh vững mạnh chính là xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh. Qua đó tạo mối quan hệ giữa cấp ủy với hội đồng quản trị, lãnh đạo doanh nghiệp và Ban chấp hành các đoàn thể, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, tạo sự đồng thuận nhất trí cao trong cán bộ, đảng viên và người lao động, góp phần quyết định sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Sáu là, phải tạo sự chuyển biến trong nhận thức của các cấp ủy đảng, lãnh đạo doanh nghiệp và người lao động về mục tiêu, các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, sát thực tế và gắn liền với nhiệm vụ chính trị của từng đơn vị để thống nhất nhận thức và hành động trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết....
  • Hình ảnh hoạt động

  • Video hoạt động

1 2 3 4 5 7 9
Beardyman and Reggie Watts on Channel 4 Headspace A Closer Look At The iPhone Political Roast : Obama Emanuel 2005